Chuong I: Thinh Vuong Kinh Te
Chương I: Thịnh Vượng Kinh Tế
Thịnh vượng kinh tế là quá trình tạo thành và tích lũy của cải vật chất có ích trong cuộc sống, được nhiều người trong xã hội muốn sở hữu. Lý do muốn sở hữu vì:
- Bản chất hoặc giá trị của vật chất giữ vai trò thiết yếu trong đời sống, gia tăng tiện nghi cho cuộc sống, hoặc phù hợp với sở thích cá nhân.
- Của cải là phương tiện trao đổi dịch vụ hoặc vật chất để thỏa mãn lý do ban đầu.
- Của cải vật chất là phương tiện thực hiện dịch vụ hoặc làm ra vật chất để phục vụ lý do ban đầu.
Hoạt động kinh tế là kết quả của ba câu hỏi thường được đề ra trong các học thuyết kinh tế: “sản xuất cái gì? sản xuất làm sao? và sản xuất cho ai?” Nền kinh tế có được thịnh vượng hay không đều tùy thuộc vào những giải pháp thực tế của ba câu hỏi trên. Điều này chỉ phụ thuộc phần nào vào điều kiện thiên nhiên. Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, hay ưu đãi về khí hậu, môi trường, chỉ mới là tiềm năng kinh tế, nếu con người chưa biết cách sử dụng. Nguồn gốc của sự thịnh vượng là ở con người và lệ thuộc vào những yếu tố sau:
1) Quyền tư hữu là yếu tố “chủ” trong sự thịnh vượng. Mọi người phải có lòng ham muốn sở hữu. Có ham muốn sở hữu, mới sinh ra nhu cầu mới trong cuộc sống. Nhu cầu sống càng cao, càng đa dạng, càng tiện nghi, xã hội càng được thịnh vượng.
2) Nhu cầu thị trường là yếu tố “nội” trong sự thịnh vượng, ảnh hưởng đến giải đáp cho câu hỏi “sản xuất cái gì?”. Mọi người không được bằng lòng với nhu cầu đang có. Một khi đạt được những nhu cầu thiết yếu, họ phải đòi hỏi thêm nhiều nhu cầu khác cao hơn, tiện nghi hơn. Với thời gian, các nhu cầu một thời là xa xỉ, lâu dần sẽ trở nên thiết yếu trong đời sống hằng ngày.
3) Trí thức lao động là yếu tố “thực” trong sự thịnh vượng, xác định giải đáp cho câu hỏi “sản xuất làm sao?”. Mọi người phải biết sử dụng tài nguyên sẵn có để phục vụ nhu cầu sống lẫn nhau với lợi nhuận kinh tế tối đa. Lợi nhuận kinh tế là giá trị gia tăng phát sinh từ công việc chế biến vật chất hoặc cung cấp dịch vụ. Ba nhân tố trên đều thuộc về bản chất của người, từ đặc tính con người tạo nên.
4) Phương tiện trao đổi là yếu tố “ngoại” trong sự thịnh vượng. Mọi người phải tìm ra được phương thức tối ưu để trao đổi với nhau được dễ dàng. Thị trường trao đổi càng lớn, cơ hội kinh tế cho mỗi người càng nhiều, vì tài nguyên một nơi không dùng hết sẽ đáp ứng nhu cầu ở những nơi khác.
5) Hoạt động đầu tư là yếu tố “viễn” trong sự thịnh vượng, là quá trình tìm kiếm giải đáp thỏa đáng cho câu hỏi “sản xuất cái gì và sản xuất làm sao?”. Xã hội phải sử dụng thặng dư kinh tế một cách hợp lý. Với nguồn thặng dư kinh tế, xã hội có thể rút bớt một phần nhân lực ra khỏi lực lượng lao động chính. Nơi nào dùng khối nhân lực đó để nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, phục vụ nhu cầu tưong lai, sẽ có nhiều cơ hội phồn thịnh. Ngược lại, nơi nào dùng nguồn nhân lực đó để bảo vệ quyền lợi của thiểu số người, sẽ không thể có cơ hội phát triển.
6) Đối tượng phục vụ là yếu tố “nhân” trong sự thịnh vượng, là kết quả của câu hỏi “sản xuất cho ai?”. Càng nhiều người được phục vụ nhu cầu sống, xã hội càng thêm thịnh vượng.
7) Tự do kinh tế là yếu tố quan trọng nhất, là yếu tố “cơ” của sự thịnh vượng. Mọi người phải có cùng cơ hội kinh tế, được tự do tìm kiếm hoặc cải tiến các nhu cầu sống được xã hội chấp nhận. Họ phải có quyền hưởng thụ hoặc được chia xẻ lợi nhuận kinh tế phù hợp với đóng góp của bản thân. Bốn nhân tố sau thuộc về môi trường, do cơ chế con người tạo thành.
Bảy điều kiện trên khi được phối hợp hài hòa là nền tảng của sự thịnh vượng tự chủ, kết quả phồn thịnh luôn được bền vững. Các hình thức kết hợp khác tạo nên nền thịnh vượng lệ thuộc, thịnh vượng phụ thuộc, thịnh vượng từ khai thác, hoặc thịnh vượng từ chiếm đoạt, chỉ mang lại kết quả phồn thịnh nhất thời.
Con đường vươn lên truyền thống của các con rồng kinh tế Á châu, để đạt đến nền thịnh vượng tự chủ, là thông qua quá trình phát triển từ thịnh vượng khai thác đến thịnh vượng lệ thuộc và tiến lên thịnh vượng phụ thuộc. Đây cũng là hướng mà chính quyền nước ta hiện nay đang muốn phấn đấu. Chương này sẽ khảo sát những nguyên tắc căn bản để xây dựng một nền kinh tế thịnh vượng tự chủ; sau đó sẽ dùng những luận cứ đó để phân tích thực trạng kinh tế nước ta và giới thiệu sơ lược vài định hướng giải quyết. Nguyên tắc chi tiết sẽ được khảo sát kỹ hơn trong những chương sau này.
I. Kinh tế thịnh vượng tự chủ:
Trong bất kỳ hoạt động kinh tế, “lợi nhuận tuyệt đối” là khả năng con người tạo nên “giá trị gia tăng” trong vật chất hoặc dịch vụ với độ tiện lợi, tiện nghi, hoặc tiện thích (hợp sở thích) càng cao, bằng mức hao tổn và độc hại càng thấp. “Lợi nhuận tương đối” là nhu cầu mà thị trường có cần đến hoặc quý trọng vật chất được làm ra hoặc dịch vụ đã thực hiện. Đó là “giá trị thặng dư” sau quá trình trao đổi; được xác định bằng trị giá tương đương của các sản phẩm hoặc dịch vụ đang có trong xã hội.
“Lợi nhuận tuyệt đối” trong hoạt động kinh tế không nhất thiết sẽ kéo theo “lợi nhuận tương đối”, và ngược lại. Trong điều kiện thực tế luôn bị hạn chế về tài nguyên và kiến thức, “lợi nhuận tương đối”, trên lý thuyết, là cách thức mà xã hội bình bầu và chọn lọc những thể loại sản phẩm có giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”, để đáp ứng cho các nhu cầu cần thiết nhất trong cuộc sống. Cách thức bình bầu và chọn lọc càng phản ảnh nhu cầu của đa số người, nền kinh tế sử dụng tài nguyên càng thêm hiệu quả với lợi ích càng cao; do đó xã hội sẽ ngày càng thêm thịnh vượng. Nếu kết quả chỉ phản ảnh nhu cầu của thiểu số người, nền kinh tế sẽ không cần sử dụng tài nguyên hiệu quả, bỏ qua giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”, chỉ cốt đạt được mức độ “lợi nhuận tương đối” cao nhất; hậu quả là xã hội ngày càng đánh mất đi tiềm năng thịnh vượng.
Nguyên nhân căn bản nhất dẫn đến sự thịnh vượng là: mọi người phục vụ nhu cầu lẫn nhau vì mục tiêu riêng, thông thường là mang lại lợi nhuận tối đa cho bản thân. Lợi nhuận càng trọng về tương đối, nền thịnh vượng càng có tính phụ thuộc; lợi nhuận càng thiên về tuyệt đối, nền thịnh vượng càng đạt được quyền tự chủ. Nền kinh tế thịnh vượng tự chủ là sự phối hợp hài hòa giữa bảy yếu tố sẽ khảo sát dưới đây, sao cho phù hợp với nguyên nhân thịnh vượng vừa được nêu trên.
1. Quyền tư hữu:
Quyền tư hữu là yếu tố “chủ” trong sự thịnh vượng. Đây là chủ lực cá nhân thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế trong xã hội để được sở hữu vật chất mà nhiều người khác cùng muốn sở hữu. Lòng ham muốn tư hữu là động lực thúc đẩy cá nhân phấn đấu để có được quyền tư hữu. Điều này theo triết lý Phật giáo là cội nguồn của mọi sự khổ đau. Tuy nhiên nếu triệt bỏ quyền tư hữu, hoặc triệt tiêu lòng ham muốn tư hữu trong phạm vi toàn xã hội, kết quả sẽ không làm vơi đi nỗi khổ đau, mà còn gia tăng sự túng quẫn do kinh tế bị trì trệ. Hiệu năng quản lý tài nguyên kinh tế của con người lệ thuộc vào quyền tư hữu. Nhu cầu mới và đa dạng trong cuộc sống con người phụ thuộc vào lòng ham muốn tư hữu. Phải có quyền tư hữu, con người mới hết lòng sử dụng tài sản sở hữu hiệu quả nhất, để mang lại mức độ lợi nhuận cao nhất. Phải có lòng ham muốn tư hữu, xã hội mới xuất hiện thêm nhiều nhu cầu ban đầu tưởng chừng vô bổ, nhưng lâu dần sẽ trở thành thiết yếu trong cuộc sống. Bởi vì lòng ham muốn tư hữu là bản tính tự nhiên của con người, quyền tư hữu không còn là quyền đặc nhiên của nhiều người.
Trái với những nguyên tắc sau đây sẽ làm cản trở tiến trình thịnh vượng của nền kinh tế. Các nguyên tắc căn bản về quyền tư hữu, giúp hình thành nền kinh tế thịnh vượng là
a) Công khai hóa quyền tư hữu.
b) Bảo vệ quyền tư hữu bằng pháp luật.
c) Bảo đảm quyền tư hữu một cách công bằng.
1a) Công khai hóa quyền tư hữu:
Quyền tư hữu phải được công khai và minh bạch, thì xã hội mới tránh khỏi xung đột do tranh chấp về quyền tư hữu. Người ta sẽ sử dụng tài năng và sức lực để đạt được quyền tư hữu bằng phương tiện kinh tế, thay vì dùng bạo lực. Quyền tư hữu được công nhận rộng rãi là hình thức để xã hội nhìn nhận nỗ lực đóng góp của cá nhân vào lợi ích chung. Phần lớn tài sản bất chính đều không được chấp nhận công khai, phải luôn che đậy dưới nhiều hình thức. Biện pháp hiệu quả nhất để hạn chế tình trạng này là mọi dạng tài sản trong xã hội cần có chủ sở hữu công khai, và quyền tư hữu phải được bảo vệ bằng pháp luật.
1b) Bảo vệ quyền tư hữu bằng pháp luật:
Quyền tư hữu không phải quyền tự nhiên của con người. Quyền tư hữu phải được bảo đảm bằng quyền lực của toàn xã hội, thay vì dựa vào sức mạnh của thiểu số đang cầm quyền. Đó là quyền lực của hệ thống pháp luật được xã hội thi hành và tuân thủ nghiêm ngặt. Hệ thống pháp lý càng công bằng và công minh, quyền tư hữu càng được bảo đảm, con người càng có lòng tin. Chính vì thiếu lòng tin vào hệ thống luật pháp, từ xưa đến nay phương tiện đáng tin cậy nhất để bảo vệ quyền tư hữu của con người là tích lũy vật chất quý hiếm, không bị phân hủy với thời gian như vàng, bạc. Đó là thước đo chính xác nhất về lòng tin của người dân vào pháp luật xã hội; liệu rằng luật pháp có bảo vệ được quyền tư hữu chính đáng của họ. Niềm tin vào pháp luật càng cao, người dân càng dùng trọn lợi nhuận vào các hoạt động kinh tế hữu ích như đầu tư để cải tiến phương tiện sản xuất, hoặc tiêu thụ để cải thiện nhu cầu sống. Không tìm được niềm tin vững chắc, họ sẽ đổi dạng tư hữu sang tích lũy quý kim, luôn có giá trị với thời gian, bất kể thay đổi của thời đại. Điều này càng làm gia tăng giá trị tương đối của quý kim và là một trong những yếu tố làm cản trở sự phồn thịnh của xã hội.
1c) Bảo đảm quyền tư hữu một cách công bằng:
Quyền tư hữu, trên lý thuyết là hình thức để xã hội ban thưởng nỗ lực đóng góp của cá nhân vào lợi ích chung. Tuy nhiên do bất công trong thực tế, quyền tư hữu thường là công cụ quyền lực để bành trướng quyền lợi cho cá nhân hoặc thiểu số người. Quyền lực kinh tế càng mạnh và tập trung vào số ít người, sở hữu phần lớn phương tiện sản xuất, sẽ buộc đa số người phải phục vụ quyền lợi cho thiểu số; kết quả là luôn đánh mất sự phồn thịnh trong xã hội. Giải pháp hay nhất không phải giới hạn quyền tư hữu, mà cần tuân theo nguyên tắc là: cá nhân, đoàn thể nào quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, tài sản hữu hạn với mức độ lợi nhuận cao nhất, xứng đáng được hưởng quyền tư hữu; và ngược lại. Đó là lẽ công bằng trong quyền tư hữu. Quyền lợi từ quyền tư hữu phải đi đôi với trách nhiệm. Được quyền tư hữu mà không mang lại lợi ích kinh tế tương đương, sẽ là gánh nặng tài chính cho người sở hữu. Ngoài ra, quyền tư hữu tài nguyên, tài sản không dẫn đến quyền tự do khai thác và thao túng. Nguyên tắc này sẽ được khảo sát kỹ hơn trong chương III (“Tự do và nguyên tắc tự do”). Quyền tư hữu càng được công bằng, xã hội càng tạo điều kiện tốt cho nhiều người phát huy triệt để tài năng. Kết quả là nền kinh tế càng thêm được thịnh vượng.
Quan hệ chính trị, bàn luận trong chương II (“Quan hệ người và tự do kinh tế”), đóng vai trò quyết định đến quyền tư hữu chính đáng của mọi người trong xã hội.
2. Nhu cầu thị trường:
Nhu cầu thị trường là yếu tố “nội” trong sự thịnh vượng, ảnh hưởng đến giải đáp cho câu hỏi “sản xuất cái gì?”. Đó là nội lực thúc đẩy, làm nâng cao mức tiện dụng và tiện nghi trong cuộc sống, luôn phát sinh thêm nhiều hoạt động kinh tế hữu ích. Yếu tố quan trọng nhất là mọi người phải đòi hỏi tiêu chuẩn sống tốt hơn và luôn tìm cách cải thiện nhu cầu sống cao hơn. Mọi tiêu chuẩn sống đều có nhiều cách thức cải thiện để trở nên tốt đẹp hơn, nhân bản hơn trong tương lai. Các tiêu chuẩn sống tưởng chừng như thuần túy lễ nghĩa, nếu được nhiều người đòi hỏi, sẽ trở thành nền tảng của xã hội văn minh. Tương tự, mọi nhu cầu sống hiện tại đều có nhiều phương thức cải tiến để trở nên tiện dụng hơn, tiện nghi hơn trong tương lai. Những nhu cầu ban đầu là xa xỉ, nếu có nhiều người ham muốn, sẽ dần trở thành thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Nâng cao tiêu chuẩn lễ nghĩa và gia tăng lòng ham muốn nhu cầu là một trong những nguyên nhân chính tạo nên sự thịnh vượng. “Lễ nghĩa sinh phú quý” chính là nguyên nhân; “phú quý sinh lễ nghĩa” chỉ là kết quả mặt nổi của sự thịnh vượng, mà xã hội ta đã nhìn nhận ra từ lâu.
Nhu cầu thị trường là đề tài được nhiều học thuyết kinh tế nghiên cứu cặn kẽ, với mục đích tìm ra chính sách chung trong xã hội để làm gia tăng nhu cầu của thị trường. Giải pháp thông dụng là gia tăng tối đa nguồn “lợi nhuận tương đối” cho người tiêu dùng với mức lạm phát tối thiểu. Giải pháp thích hợp cho hoàn cảnh nước ta sẽ được khảo sát chi tiết trong chương XIV (“Phương hướng đánh thức tiềm năng kinh tế Việt Nam”).
Bàn về nguyên tắc chung, nhu cầu của thị trường phụ thuộc vào những điều kiện “cần” và “đủ” sau đây:
- Điều kiện cần: yếu tố văn hóa, tôn giáo, và môi trường.
- Điều kiện đủ: yếu tố môi trường và con người.
2a) Yếu tố văn hóa:
Có quan điểm cho rằng lễ nghĩa tạo phiền toái, không cần thiết; hoặc lòng ham muốn gây nên tính hẹp hòi, ích kỷ. Đây là điều kiện về văn hóa ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đạt đến thịnh vượng kinh tế của một xã hội. Đơn cử trường hợp nước ta trước thời Pháp thuộc, nền văn hóa nho giáo đã dẫn đến thái độ bằng lòng với nhu cầu đang có, từ chối các nhu cầu mới, dù có giúp nâng cao điều kiện sống hàng ngày. Dân tộc nào lựa chọn cuộc sống đơn giản, không nề trang phục, trang sức, nguyên tắc lễ nghĩa, sẽ không có nhu cầu về thời trang, trưng diện, lễ lọc, không thể có cơ hội trở nên giàu có. Nếu họ không có lòng ham muốn, cải thiện, hoặc tạo nên nhu cầu mới trong cuộc sống, họ sẽ không biết lợi dụng lợi ích tối đa từ thiên nhiên. Đời sống họ luôn tùy thuộc vào điều kiện sẵn có trong tự nhiên. Nền văn hóa đó sẽ tạo nên xã hội phát triển theo chu kỳ, sự thịnh suy nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Ngược lại, nền văn hóa có tinh thần thách thức mọi ý tưởng đã được chấp nhận để cải hóa trí thức, tìm hiểu mọi cá tính của con người để cải thiện tiêu chuẩn sống, và tìm tòi mọi quy luật trong thiên nhiên để cải tiến nhu cầu sống, sẽ tạo nên xã hội phát triển theo chiều hướng tịnh tiến. Thành quả thịnh vượng của xã hội này, ngày càng nằm trong tầm hiểu biết và quyền kiểm soát của con người. Các biện pháp làm khai phóng yếu tố văn hóa sẽ được khảo sát trong chương II (“Quan hệ người và thịnh vượng kinh tế”).
2b) Yếu tố tôn giáo:
Yếu tố văn hóa dễ bị ảnh hưởng bằng cách tiếp xúc qua giao dịch hay thương mại. Giống trường hợp nước ta, có tiếp xúc với nền văn minh phương Tây, dân ta mới ý thức đến sự lạc hậu, kém cỏi của nước nhà và hun đúc ý chí muốn vươn lên. Nếu có xã hội nào đó do ảnh hưởng của tôn giáo, không muốn thay đổi nhu cầu sống, sẽ không thể đạt được thành quả thịnh vượng về kinh tế. Đó là sự lựa chọn của mỗi dân tộc.
2c) Yếu tố môi trường:
Yếu tố môi trường vừa là điều kiện cần và đủ để thúc đẩy nội lực trong nhu cầu thị trường. Điều kiện “cần” là khi môi trường đóng vai trò chủ động trong đời sống con người. Tài nguyên, khí hậu phải có ưu đãi tối thiểu, để duy trì các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống con người như ăn, ở, và sức khỏe. Con người có được mạnh khỏe, không phải chật vật với việc sinh nhai để sinh tồn, mới lo nghĩ được cách thức nâng cao độ tiện nghi, tiện lợi cho cuộc sống của mình. Điều kiện “đủ” là khi môi trường giữ vai trò thụ động trong quá trình tạo nên sự thịnh vượng. Tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng và dồi dào, luôn có khả năng cung cấp mọi nguyên vật liệu cần thiết, nếu con người biết cách khai thác và sử dụng một cách có trách nhiệm. Để đáp ứng cầu sống ngày một cao, con người phải tìm được nguồn nguyên liệu dồi dào, đủ sức thỏa mãn lòng ham muốn của đa số người trong xã hội. Nếu họ tìm được tài nguyên mới, phong phú hơn, dễ khai thác hơn, thay thế được nguyên liệu khan hiếm hiện đang sử dụng, khi đó họ đã biết lợi dụng yếu tố môi trường để phục vụ nhu cầu sống.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, nguồn gốc một nền thịnh vượng bền vững bao giờ cũng xuất phát từ những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, nhưng không thể đáp ứng bằng nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có. Xã hội thời nông nghiệp sung túc lương thực hơn so với thời nguyên thủy, do vì săn bắn, hái lượm dựa vào thiên nhiên không thể đáp ứng nổi nhu cầu lương thực của con người. Xã hội thành thị thời tiểu thủ công nghiệp sầm uất hơn xã hội nông thôn, bởi vì dân thành thị không có đất canh tác nên phải tạo ra sản phẩm thủ công, để đổi lấy nhu cầu lương thực. Xã hội công nghiệp giàu mạnh vượt bậc so với các thời đại trước, là do bị thiếu hụt nguyên vật liệu cần thiết trong nhiều ngành tiểu thủ công nghiệp. Các nước Âu Mỹ ngày nay thịnh vượng hơn ba mươi năm trước, là nhờ vào sự trợ giúp đắc lực từ ngành công nghệ thông tin, vốn khởi đầu để giải quyết nạn thiếu hụt nhân công làm những thao tác trùng lặp một cách máy móc. Hướng đến tương lai, xã hội thời chinh phục vũ trụ, công nghệ không gian chắn chắn sẽ đạt mức độ thịnh vượng không thể tưởng tượng nổi so với mọi thời đại xưa nay. Nguyên nhân chính sẽ là do viễn ảnh cạn kiệt của nhiều nguồn tài nguyên trên trái đất. Điều có vẻ nghịch lý là nơi nào càng được thiên nhiên ưu đãi, nơi đó càng khó có khả năng duy trì và khuyếch trương nền thịnh vượng. Các nước châu Âu và Nhật Bản đều là những quốc gia nghèo về tiềm năng nông nghiệp. Trước khi được phồn thịnh như ngày nay, họ luôn bị nạn đói đe dọa. Sự phát triển của ngành thương mại hàng hải của các nước châu Âu vào thế kỷ XV để đổi lấy hương liệu không phải cho nhu cầu xa xỉ, mà mục tiêu chính là vì sự sinh tồn. Mùa đông ở châu Âu không thể nuôi nổi toàn bộ đàn gia súc, buộc họ phải giết bớt, nên phải dùng hương liệu ướp thịt để tránh bị hư hỏng. Do đó, giàu có về tài nguyên thiên nhiên không quyết định đến khả năng thịnh vượng, mà chỉ là điều kiện khách quan ảnh hưởng đến tiến trình tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu cần thiết để phục vụ đời sống con người.
Trong các loại tài nguyên sử dụng, chỉ có năng lượng là bị mất đi vĩnh viễn; phần còn lại khoa học kỹ thuật đều có khả năng tái chế từ dạng này sang dạng khác, hoặc tìm được vật liệu khác thay thế. Nếu con người sử dụng nguồn năng lượng tái tạo như mặt trời, gió, nhiên liệu sinh học để dùng trong các ngành công, nông nghiệp, giá trị thịnh vượng sẽ được lâu bền hơn. Tiện nghi cho đời sống hôm nay sẽ không phải vay mượn từ môi trường sống ô nhiễm ở mai sau. Dựa vào nền tảng trí thức, con người sẽ tìm ra cách vận dụng và lợi dụng mọi quy luật trong thiên nhiên để phục vụ nhu cầu sống cho mình. Khí Hydro là một trong những nguyên tố dồi dào nhất trên trái đất và trong vũ trụ. Khi con người biết dùng sự kết hợp của khí Hydro trong phản ứng nhiệt hạch, để tạo năng lượng như trong lòng mặt trời, viễn ảnh năng lượng cạn kiệt không còn nữa vì theo ước tính khoa học, 1 km khối nước biển đủ cung cấp nhu cầu năng lượng hiện đang sử dụng cả năm trên toàn thế giới. Khi đó, yếu tố tài nguyên sẽ không còn giữ vai trò ảnh hưởng, làm giới hạn nhu cầu ham muốn của con người nữa.
Trí thức lao động (sẽ được bàn trong mục 3), là nhân tố làm thay đổi các điều kiện môi trường nhằm cải thiện tiêu chuẩn sống và cải tiến nhu cầu sống của con người.
2d) Yếu tố con người:
Con người nhân tố chủ đạo quyết định nên nhu cầu thị trường. Bản tính tự nhiên của con người là thích thụ hưởng và ham muốn nhu cầu mới. Đó là sức mạnh của nội lực thịnh vượng. Một lực dù có mạnh nếu không điểm tựa nâng đỡ, sẽ không thể hiện nổi tầm ảnh hưởng mong đợi. Lực ban đầu tuy yếu, khi có được điểm tựa vững chắc, sẽ dần trở nên mạnh mẽ, phát huy được tối đa tác dụng mong muốn. Điểm tựa của nội lực thịnh vượng là ở tính tự chủ khi đòi hỏi nhu cầu sống. Luôn đua đòi, chạy theo nhu cầu phô trương, bị thị hiếu của xã hội giàu chi phối, là tự đánh mất điểm tựa nội lực của mình. Học hỏi kinh nghiệm từ xã hội giàu để đáp ứng nhu cầu thiết thực, tự phát triển thị hiếu riêng, là từng bước xây dựng điểm tựa nội lực vững chắc cho chính mình.
Đối tượng phục vụ (mục 6) và tự do kinh tế (mục 7), là các nhân tố cơ chế ảnh hưởng đến yếu tố con người trong việc hình thành điểm tựa nội lực vững chắc cho sự thịnh vượng.
3. Trí thức lao động:
Trí thức lao động là yếu tố “thực” trong sự thịnh vượng, xác định giải đáp cho câu hỏi “sản xuất thế nào?”. Sự phồn thịnh của các nước giàu có, đã phát triển, đều gắn liền với mọi thành tựu làm nâng cao trình độ trí thức lao động trong nền kinh tế nước họ. Trí thức lao động quyết định đến sự thịnh vượng là do ở khả năng cung cấp, đáp ứng mọi nhu cầu về vật chất và dịch vụ trong xã hội bằng kết quả của “lợi nhuận tuyệt đối”; đó là làm gia tăng giá trị vật chất hoặc dịch vụ với độ tiện lợi, tiện dụng hoặc tiện thích càng cao, bằng mức hao tổn và độc hại càng thấp. Kết quả này được thể hiện qua những đẳng cấp sau:
3a) Đẳng cấp sơ khai:
Một người tự cung tự cấp, tự đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết cho bản thân và gia đình. Khả năng thịnh vượng hoàn toàn là số không vì sức người và thời gian đều có hạn. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là khả năng sống trong tự nhiên. Đời sống kinh tế chú trọng vào việc sinh tồn.
3b) Đẳng cấp nông nghiệp:
Một người trực tiếp cung cấp được nhu cầu lương thực cho vài chục người. Khả năng thịnh vượng bị hạn chế bởi ưu đãi về môi trường, khí hậu, và tài nguyên đất. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là học hỏi kinh nghiệm từ thiên nhiên. Đời sống kinh tế phấn đấu để bảo đảm an ninh lương thực.
3c) Đẳng cấp thủ công:
Một người trực tiếp cung cấp được nhu cầu tiêu dùng của số nhỏ người nhờ vào phương tiện sản xuất thủ công. “Lợi nhuận tuyệt đối” bị hạn chế bởi năng lực lao động thủ công; “lợi nhuận tương đối” bị lệ thuộc vào lòng ham muốn của thị trường tiêu thụ. Khả năng thịnh vượng chỉ giới hạn vào số nhỏ nghệ nhân, may mắn nắm bắt được thị hiếu của thị trường tiêu thụ giàu có. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là tìm cách tạo ra vật dụng tinh xảo, hữu ích. Đời sống kinh tế là ngoài mục tiêu an ninh lương thực, còn làm cho cuộc sống trở nên phong phú.
3d) Đẳng cấp công nghiệp:
Một người góp phần cung cấp nhu cầu tiêu dùng của hàng ngàn người bằng cách lợi dụng các quy luật trong tự nhiên để nâng cao năng suất sản xuất. Nhu cầu tiêu dùng được sản xuất hàng loạt, tạo nên nhiều của cải vật chất cho xã hội. Yêu cầu dịch vụ được đáp ứng nhanh chóng, làm nâng cao tiêu chuẩn sống trong xã hội. Năng suất làm việc cao, một phần nhờ vận dụng hiệu quả kiến thức khoa học kỹ thuật vào mọi qui trình sản xuất; phần khác do điều phối hợp lý kỹ năng nhân sự trong các tổ chức kinh tế. Khả năng đạt được thành quả thịnh vượng rất mạnh và bền vững, chỉ phụ thuộc vào các điều kiện “đủ” của yếu tố môi trường về tài nguyên năng lượng và nguyên liệu cần thiết. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là tìm cách cơ giới hóa để sản xuất hàng loạt. Đời sống kinh tế không còn lo về an ninh lương thực, mà tìm cách nâng cao độ tiện nghi và tiện lợi trong cuộc sống.
3e) Đẳng cấp trí thức:
Một người góp phần làm ra sản phẩm với số lượng và chất lượng vượt trội so với đẳng cấp công nghiệp. Năng suất làm việc gia tăng gấp bội nhờ vào mức độ tự động hóa cao trong các ngành sản suất. Khả năng thịnh vượng vượt bậc, chỉ còn phụ thuộc vào điều kiện “đủ” của môi trường về tài nguyên năng lượng và trình độ trí thức của lực lượng lao động. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là tìm cách tự động hóa mọi qui trình sản xuất trong nền kinh tế. Đời sống kinh tế vừa chú trọng vào các dịch vụ cần thiết, vừa làm gia tăng tính nghệ thuật trong các sản phẩm tiêu dùng.
3f) Đẳng cấp hậu trí thức:
Con người luôn quyết định nguyên lý và cách thức tạo nên sản phẩm, dịch vụ để phục vụ đời sống cho họ. Đó là vai trò không thể thay thế được của con người trong nền kinh tế. Nền kinh tế càng cần ít công nhân, nhưng càng làm ra nhiều sản phẩm, về lâu về dài sẽ càng tạo thêm nhiều công ăn việc làm; chứ không bao giờ gây nên nạn thất nghiệp triền miên. Nền kinh tế đạt đến đẳng cấp hậu trí thức khi mọi qui trình sản xuất đều do máy móc điều khiển và làm ra. Thay vào sản phẩm được sản xuất hàng loạt là sản thuật được thiết kế và chế tạo tùy theo yêu cầu và nhu cầu của từng người tiêu dùng. Khi con người không cần phải lo toan về các vấn đề vật chất, dịch vụ sẽ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Vai trò của con người trong tương lai sẽ là những nhà kiến trúc, thiết kế, mỹ thuật, nhân văn, hoặc thám hiểm các hành tinh xa xôi. Khi con người tự tạo được nguồn năng lượng cần dùng, khi đó khả năng thịnh vượng sẽ là vô hạn, vì trí thức con người không bao giờ biết đến sự giới hạn. Trí thức lao động ở đẳng cấp này sẽ chuyên về tìm tòi sáng tạo sản thuật hoặc tìm cách chinh phục không gian. Đời sống kinh tế có thể sẽ không cần biết đến giá trị “lợi nhuận tương đối”, hoặc quy luật cung cầu đối với nhu yếu phẩm như hiện nay. Con người trong giai đoạn này, có lẽ chuyên xây dựng thuộc địa ở các hành tinh, hoặc thám hiểm vũ trụ để thỏa mãn các nhu cầu sống cao cấp trong xã hội.
Trí thức lao động là đề tài được nhiều học thuyết kinh tế khảo sát nhất. Mục tiêu nghiên cứu đa phần là tìm cách gia tăng mức “lợi nhuận tương đối” của các sản phẩm, từ giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đạt được do thành quả của khoa học kỹ thuật.
Giá trị lợi nhuận phụ thuộc vào năng suất sản xuất của công nhân. Những nguyên tắc đã được nghiên cứu để nâng cao năng suất lao động ở thời điểm hiện tại, về mặt tổ chức là:
a) Phân công lao động: mỗi người một phần của công việc sao cho đạt được sản lượng tối đa và chất lượng tối hảo.
b) Chuyên môn lao động: mỗi người hoặc đơn vị kinh tế chuyên môn một công việc sao cho toàn thể nền kinh tế sản xuất được nhiều sản phẩm nhất, với chất lượng tốt nhất.
c) Lợi thế cạnh tranh: mỗi người và đơn vị kinh tế chuyên vào sở trường của mình; sở đoản của mình sẽ là sở trường của người khác. Do đó họ phải xác định đúng sở trường và cạnh tranh dựa vào thế mạnh đó.
Giá trị “lợi nhuận tương đối” phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường. Do bị giới hạn về kiến thức và điều kiện “đủ” về tài nguyên, môi trường ở thời điểm hiện tại, các yếu tố ảnh hưởng đến trình độ trí thức lao động là:
a) Giá cả thời vận: do bị hạn chế về tài nguyên và thời gian, sự chọn lựa từ nhiều giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” để đeo đuổi vài nguồn “lợi nhuận tương đối” là giá phải trả về cơ hội thời vận. Đeo đuổi cơ hội này có thể khó khăn hơn, tuy được lợi về kiến thức, nhưng có thể sẽ không đạt được nguồn “lợi nhuận tương đối” so với cơ hội khác, ở tại thời điểm hiện tại.
b) Nguồn nhân công rẻ: nhân công rẻ vì giá trị lao động tạo nên lợi nhuận kém. Nếu giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” kém, đó là do trình độ trí thức lao động thấp. Khả năng nâng cao trí thức lao động phụ thuộc vào nhu cầu thị trường (mục 2), và cơ chế kinh tế (mục 7). Nếu giá trị “lợi nhuận tương đối” kém, đó là do các yếu tố về đối tượng phục vụ (mục 6) và cơ chế kinh tế (mục 7). Giữ giá nhân công rẻ là chính sách kìm hãm quá trình tiến triển của trí thức lao động.
c) Tài nguyên thiên nhiên dồi dào: con người sẽ chú trọng vào “lợi nhuận tuyệt đối” mà bỏ qua độ hao tổn hoặc độc hại đối với nguồn tài nguyên dồi dào. Giá trị thịnh vượng sẽ là sự vay mượn của nguy cơ cạn kiệt hoặc độc hại trong tương lai.
d) Cơ chế kinh tế: sẽ được bàn thảo trong mục 7, là yếu tố quan trọng nhất chi phối mọi yếu tố tạo nên sự thịnh vượng. Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành “thực lực” thịnh vượng.
Động lực làm nâng cao trình độ trí thức lao động là tính cầu tiến, và óc tò mò của con người. Để mang lại lợi ích thiết thực, họ phải tạo nên giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” từ khả năng sáng tạo, và từ đó tìm cách chuyển sang nguồn “lợi nhuận tương đối”. Trình độ trí thức lao động càng cao, giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” càng cao. Các yếu tố giúp nâng cao trình độ trí thức lao động là:
a) Nhu cầu về thị trường: đặc biệt là yếu tố văn hóa và môi trường, con người phải có lòng ham muốn nhu cầu mới, hoặc luôn tìm cách thách thức, xét lại mọi chân lý đã được công nhận. Nếu nguồn nguyên liệu cần dùng bị khan hiếm, đó là cơ hội để con người nâng cao trình độ trí thức lao động bằng cách tìm kiếm vật liệu tương đương thay thế.
b) Hoạt động đầu tư: nhờ có đầu tư mà con người mới khám phá được các giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” chưa hề được biết đến (mục 5).
c) Cơ chế kinh tế: kết quả khám phá giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” phải được tôn trọng, và những người có công phải được hưởng thành quả một cách xứng đáng (mục 7).
Trình độ trí thức lao động không thể tiến triển, nếu những người khám phá kiến thức cho trí thức lao động, không chuyển đổi được giá trị “lợi nhuật tuyệt đối” sang nguồn “lợi nhuận tương đối”. Các yếu tố làm chuyển đổi thành công là:
a) Cơ chế kinh tế: phải có sự cạnh tranh công bằng và minh bạch khi giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường tiêu thụ (mục 7).
b) Đối tượng phục vụ: nền kinh tế càng phục vụ thiểu số người, càng ít cơ hội giới thiệu sản phẩm mới; đặc biệt sản phẩm làm gia tăng độ tiện nghi và tiện dụng vì họ thường ít cần đến (mục 6).
c) Hoạt động đầu tư: có hoạt động đầu tư mới có được khả năng tài chính bảo trợ và giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường tiêu thụ (mục 5).
d) Phương tiện trao đổi: phương tiện trao đổi càng thuận tiện, khả năng giới thiệu sản phẩm mới để được người tiêu thụ chấp thuận càng được dễ dàng (mục 4).
4. Phương tiện trao đổi:
Là yếu tố “ngoại” trong sự thịnh vượng. Nhờ có phương tiện trao đổi mà con người mới chuyển đổi được giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” sang nguồn “lợi nhuận tương đối”, và biến “giá trị gia tăng” của vật chất được sản xuất thành “giá trị thặng dư” của sự thịnh vượng. Thị trường trao đổi càng lớn, càng thuận tiện, “giá trị gia tăng” do nơi này tạo nên càng dễ tìm được người tiêu dùng ở những nơi khác, làm sinh ra “giá trị thặng dư” khi mang ra trao đổi. Đây là yếu tố “ngoại” trong sự thịnh vượng vì trên lý thuyết, một nền kinh tế khi có điều kiện giao dịch, buôn bán dễ dàng với các nền kinh tế khác, sẽ tìm thấy nhiều cơ hội để chuyển đổi từ “giá trị gia tăng” nơi mình, sang “giá trị thặng dư” ở những nơi khác. Những yếu tố về phương tiện trao đổi đóng vai trò quan trọng đến sự thịnh vượng là:
a) Điều kiện trao đổi: phải có tính chất tự nguyện và công bằng.
b) Thông tin trao đổi: phải minh bạch và công khai.
c) Phương thức trao đổi: phải làm nhu cầu trao đổi được thêm dễ dàng.
d) Hệ thống trao đổi: phải tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho nhu cầu trao đổi.
e) Thủ tục trao đổi: phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của đôi bên.
4a) Điều kiện trao đổi:
Điều kiện quan trọng nhất là sự trao đổi phải có tính chất tự nguyện và công bằng. Mọi người chỉ trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ, để đổi lấy giá trị tương đương trong thị trường, khi kết quả phù hợp với quyền lợi chính đáng của họ. Không bàn đến chế độ chiếm hữu nô lệ, nền kinh tế với độc quyền thu mua tước mất quyền lợi chính đáng của người sản xuất, do đó họ sẽ không làm hết lòng. Nền kinh tế với độc quyền phân phối chiếm đoạt quyền lợi xứng đáng của người tiêu dùng, chạy theo “giá trị thặng dư” ở hiện tại, nhưng đánh mất “giá trị gia tăng” trong tương lai. Nếu mọi người bị buộc phải cung cấp hoặc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ mà không có quyền lựa chọn nào khác, với thời gian, nền kinh tế sẽ đánh mất đi sự thịnh vượng. Nguồn “lợi nhuận tương đối” của thành phần thu lợi từ độc quyền sẽ làm mất đi giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”. Nếu là nền kinh tế đóng, trình độ trí thức lao động sẽ không thể tiến triển được. Nếu là nền kinh tế chiếm giữ độc quyền để phục vụ nhu cầu của một nền kinh tế khác, sự thịnh vượng sẽ càng thêm bị lệ thuộc.
4b) Thông tin trao đổi:
Thông tin thị trường là đề tài được nhiều học thuyết kinh tế nghiên cứu công phu. Thông tin minh bạch và công khai là yếu tố quan trọng nhất để duy trì tính cạnh tranh và mãi lực của thị trường trao đổi. Thị trường trao đổi thường chạy theo nguồn “lợi nhuận tương đối”, nhưng giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” luôn giữ vai trò quan trọng trong các quyết định trao đổi. Thị trường trao đổi là hệ thống chọn lọc hiệu quả nhất để chuyển đổi từ giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” sang nguồn “lợi nhuận tương đối” với kết quả lợi nhuận chung cao nhất, khi thông tin trao đổi càng được rõ ràng và công khai.
4c) Phương thức trao đổi:
Phương thức trao đổi là căn bản của ngành tài chính với mục tiêu làm nhu cầu trao đổi được thêm dễ dàng. Khi người dân chưa tin vào hệ thống luật pháp để bảo vệ quyền tư hữu, quý kim hiếm như vàng, bạc là phương thức trao đổi được mọi người ưa chuộng. Tuy nhiên, nguồn quý kim chỉ có hạn, nhu cầu trao đổi giữa mọi người thì vô hạn. Nếu đôi bên trao đổi không thể tin tưởng nhau, chỉ dựa vào uy tín cá nhân hay quý kim làm tin, nhu cầu trao đổi sẽ bị giới hạn rất nhiều. Do đó hệ thống luật pháp càng minh bạch, đáng tin cậy, và bảo vệ được quyền lợi chính đáng của đôi bên khi giao dịch, ngành tài chính sẽ càng phát minh thêm nhiều phương tiện mới tạo mọi điều kiện dễ dàng cho sự trao đổi. Đây là yếu tố quan trọng nhất để mang lại sự thịnh vượng cho một nền kinh tế. Điều này tùy thuộc vào hệ thống pháp lý và cơ chế chính trị sẽ được bàn thảo trong chương II (“Quan hệ người và thịnh vượng kinh tế”).
4d) Hệ thống trao đổi:
Nhu cầu trao đổi, ngoài phương thức trao đổi, luôn bị hệ thống trao đổi làm giới hạn. Hệ thống trao đổi là phương tiện thông thương, chuyên chở sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng, và hình thức thanh toán là ở chiều ngược lại. Hệ thống trao đổi hàng hóa luôn gắn liền với các phương tiện vận tải hàng hóa. Khả năng vận chuyển hàng hóa càng nhanh chóng và hiệu quả, lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng càng nhiều. Hình thức thanh toán càng đáng tin cậy, dễ dàng, không phụ thuộc vào giới hạn của quý kim, lượng hàng hóa mang trao đổi càng thêm phong phú và đa dạng. Hệ thống trao đổi dịch vụ thì phức tạp hơn, thường gắn liền với các phương tiện thông tin liên lạc và phân tích dữ liệu. Hệ thống trao đổi dịch vụ cho các ngành sản xuất đóng nhiều vai trò quan trọng:
- Gián tiếp phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng đáp ứng được nhu cầu của họ. Chuyển đổi tối đa giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đang có, sang nguồn “lợi nhuận tương đối”.
- Giới thiệu và phát hiện những nhu cầu mới, tìm hiểu cách chuyển đổi giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đang biết sang nguồn “lợi nhuận tương đối”.
- Vận chuyển nguồn vốn từ “lợi nhuận tương đối” để đầu tư, nghiên cứu, tìm cách chuyển đổi càng nhiều giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” chưa biết, sang giàu có về nguồn “lợi nhuận tương đối” (mục 5).
- Giảm thiểu rủi ro trong quá trình trao đổi như bảo hiểm, hoặc cân bằng trong cung cầu cho các ngành sản xuất có liên hệ đối nghịch nhau (sẽ được khảo sát thêm trong chương IV trong mục về định chế tài chính).
4e) Thủ tục trao đổi:
Thủ tục trao đổi là hợp đồng cam kết giữa các thành phần trao đổi, phải bảo vệ được quyền lợi tối đa của đôi bên. Mọi tranh chấp khi trao đổi phải được giải quyết phù hợp với luật pháp quốc gia và hợp đồng cam kết. Thủ tục trao đổi càng nhanh gọn và hiệu quả, tiến trình trao đổi giữa những người không quen biết và tin cậy lẫn nhau càng dễ dàng và thuận tiện, phù hợp với nhu cầu của cả đôi bên theo tinh thần “thuận mua vừa bán”. Thông tin thị trường càng minh bạch và đáng tin cậy, con người càng dành ít thời gian và nỗ lực vào thủ tục trao đổi.
5. Hoạt động đầu tư:
Là yếu tố “viễn” trong sự thịnh vượng, là quá trình tìm kiếm giải đáp thỏa đáng cho câu hỏi “sản xuất cái gì và sản xuất làm sao?”. Hoạt động đầu tư quyết định đến trình độ phát triển của trí thức lao động. Sức tiến triển của trí thức lao động thông thường là quá trình khám phá từng bước, tiệm tiến, hiếm khi đạt được thành quả đột tiến. Con người có làm lụng, có tiêu thụ, mới biết được cách thức từng bước nâng cao năng suất lao động hoặc độ tiện nghi, tiện dụng, tiện thích của sản phẩm với mức hao tổn và độc hại thấp nhất. Con người có lòng yêu thích công việc mới đạt được thành quả tiệm tiến hoặc đột tiến trong trí thức lao động. “Lợi nhuận tương đối” là nguồn lực tài trợ cho các hoạt động đầu tư để đạt được mục đích đầu tư. Mục đích đầu tư là tìm cách gia tăng giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đã biết, hoặc cách thức tạo ra giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” chưa hề được biết đến. Bất kỳ nền kinh tế nào cũng đều đạt được “giá trị thặng dư” từ nguồn “lợi nhuận tương đối”. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn này là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến khả năng thịnh vượng trong tương lai.
Dùng “giá trị thặng dư” vào những hoạt động đầu tư với mục đích nâng cao trí thức lao động sẽ bảo đảm được khả năng thịnh vượng trong tương lai.
a) Cải thiện nhu cầu đã biết: tạo nên sự cộng hưởng trong trình độ trí thức lao động.
b) Cải tiến phương tiện sản xuất đã biết: tìm cách gia tăng giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”.
c) Tìm tòi nhu cầu chưa biết: tạo nên tính đột tiến trong nhu cầu tiêu dùng.
d) Phát minh phương tiện sản xuất chưa biết: tạo nên tính đột tiến trong trình độ trí thức lao động.
e) Đeo đuổi mục đích của nhân loại: tìm cách biến thành hiện thực ước vọng từ ngàn đời của nhân loại: xóa sạch khổ đau vì sự túng quẫn; bãi bỏ áp bức vì tính tham tàn; triệt tiêu bất công vì hiểu biết hạn hẹp. Về phương diện nhân đạo, tìm cách chữa trị những căn bệnh hiểm nghèo, bảo toàn phẩm giá con người trong trọn cuộc đời, và còn nhiều mục tiêu cao đẹp khác.
Dùng “giá trị thặng dư” vào các hoạt động để bảo toàn thành quả thịnh vượng của hiện tại, sẽ làm mất đi khả năng thịnh vượng trong tương lai:
f) Tích lũy “giá trị thặng dư”: để duy trình thành quả thịnh vượng.
g) Thao túng quyền lực chính trị: để bảo vệ thành quả thịnh vượng.
h) Kìm hãm tiến bộ trí thức lao động: để độc quyền thành quả thịnh vượng.
5a) Cải thiện nhu cầu đã biết:
Mọi nhu cầu đã biết đều có thể cải thiện để được tiện dụng hơn, tiện nghi hơn, hoặc đạt tiện thích hiện đại hơn. Đầu tư để tạo thêm “giá trị gia tăng” cho nhu cầu, sẽ nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hoặc dịch vụ, kết quả là thu thêm nhiều “giá trị thặng dư” khi trao đổi. Động lực mạnh nhất để đạt được mục tiêu này là thị trường trao đổi phải có nhu cầu ham thích, hoặc cần đến sự gia tăng trong giá trị để đổi lấy trị giá thặng dư tương xứng, mang lại lợi ích thiết thực cho những người đã bỏ công sức cải thiện. Yếu tố về nhu cầu đã bàn trong mục 2, và đối tượng phục vụ sẽ bàn trong mục 6, đóng vai trò quan trọng tạo nên động lực này. Sức tiến triển trong trí thức lao động là tiệm tiến, nhiều cải thiện nhỏ trong nhu cầu sống sẽ dẫn đến những khám phá mới, mang tính đột tiến, tạo nên sự cộng hưởng trong trình độ trí thức lao động.
5b) Cải tiến phương tiện sản xuất đã biết:
Mọi phương tiện qui trình sản xuất đang sử dụng đều có thể được cải tiến để sản xuất số lượng tối đa, chất lượng tối hảo trong cùng một mốc thời gian, với chi phí hao tổn và độc hạn tối thiểu. Đây là lĩnh vực được nhiều tập đoàn kinh tế lớn nghiên cứu chu đáo nhất. Cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ cần thiết, cải tiến phương tiện sản xuất sẽ tạo ưu thế cạnh tranh cho nhà cung cấp, gia tăng “giá trị thặng dư” từ sự tiến triển của “giá trị gia tăng”. Đây là quá trình nâng cao trình độ trí thức lao động để lợi dụng tối đa các điều kiện “đủ” về tài nguyên, môi trường. Sự khan hiếm nguyên liệu chủ lực luôn là động lực thôi thúc con người tìm kiếm vật liệu có tính năng ưu việt hơn, phong phú hơn để thay thế. Thắt chặt tiêu chuẩn về môi trường là động lực buộc họ phải giảm thiểu mức độ độc hại đến môi trường sống, bảo đảm giá trị thịnh vượng ngày nay không phải là sự vay mượn, phải trả bằng gánh nặng của môi trường trong mai sau.
5c) Tìm tòi nhu cầu chưa biết:
Nhiều nhu cầu rất thông dụng, không thể thiếu ngày nay, hoàn toàn không hiện hữu dù chỉ trước đây vài chục năm. Không ít nhu cầu lúc mới xuất hiện là biểu hiện xa xỉ, chỉ có người giàu mới kham nổi, lâu dần trở thành thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Đầu tư để tìm tòi nhu cầu chưa hề biết là phương thức hiệu quả nhất để nâng cao trình độ trí thức lao động. Có ba khả năng sử dụng “giá trị thặng dư” của nền kinh tế:
- Tiêu thụ vào các nhu cầu đã biết, gia tăng áp lực phần cầu, gây nguy cơ lạm phát.
- Tiêu dùng vào nhu cầu tích lũy quý kim, rút bớt phương tiện trao đổi, tạo nguy hại thiểu phát.
- Đầu tư để tìm kiếm những nhu cầu chưa hề biết đến, nâng cao trình độ trí thức lao động, tìm kiếm “giá trị gia tăng” cho tương lai, mang đến cơ hội thịnh phát.
Nền kinh tế tự do và được điều phối hiệu quả sẽ dùng nguồn vốn đó vào các hoạt động đầu tư. Thành quả khám phá mang tính chất đột tiến thường bắt nguồn từ sự tình cờ, không thể tiên liệu trước được. Do đó, phải có đầu tư rủi ro, tiêu pha “giá trị thặng dư” vào nhiều thí nghiệm thất bại, mới mong được thành công; nhưng quá trình này bao giờ cũng làm gia tăng trình độ trí thức lao động. Đó là giá trị luôn gặt hái được từ hoạt động đầu tư rủi ro. Vấn đề điều phối nền kinh tế để sử dụng hiệu quả “giá trị thặng dư” sẽ được khảo sát chi tiết trong chương XI (“Quan hệ vĩ mô giữa thặng dư, tiêu dùng, và đầu tư”).
5d) Phát minh phương tiện sản xuất chưa biết:
Trình độ trí thức lao động luôn gắn liền với khả năng chế tạo công cụ sản xuất. Chế tạo công cụ sản xuất chưa hề được biết đến để giải quyết các vấn đề hiện tại, sẽ mở rộng cửa kiến thức, giúp cải tiến công cụ sản xuất đang sử dụng và phát sinh công nghệ hoàn toàn mới. Nhiều ngành công nghiệp, điển hình gần đây là công nghệ thông tin, đã được khởi đầu bằng những động lực như trên. Nếu không bị áp lực cạnh tranh (mục 7), những nhà sản xuất sẽ không chịu đầu tư để nâng cao giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”. Nếu không có nhu cầu thị trường (mục 2), hoặc thị trường trao đổi hạn hẹp (mục 4), nhà sản xuất sẽ không có động lực để đầu tư vào những công cụ chưa hề hiện hữu và được biết đến. Kết quả đầu tư khi thành công, thường tạo nên tính đột tiến trong trình độ trí thức lao động.
5e) Đeo đuổi mục đích của nhân loại:
Ngày nay, đầu tư để chữa trị những căn bệnh hiểm nghèo không vì mục đích “lợi nhuận tương đối” là mục tiêu cao cả. Nếu nền kinh tế có khả năng dùng “giá trị thặng dư” của mình vào mục tiêu này, sẽ khám phá ra được cách thức chữa trị những căn bệnh nguy hiểm khác với “giá trị thặng dư” cao, nhờ vào những tiến bộ trong trình độ trí thức.
Tìm cách biến thành hiện thực ước vọng từ ngàn đời của nhân loại: xóa sạch khổ đau vì sự túng quẫn; bãi bỏ áp bức vì tính tham tàn; triệt tiêu bất công vì hiểu biết hạn hẹp. Đây là mục đích cao đẹp của một nền kinh tế đạt đến thành quả thịnh vượng tự chủ cao. Thực hiện mục tiêu này không thể thu được kết quả thỏa đáng bằng cách chia xẻ phần thịnh vượng đến với người khốn khó, đóng vai trò hiệp sĩ bảo vệ kẻ đang bị áp bức, hoặc giảng dạy tính công bằng từ khuôn mẩu đạo đức riêng. Tất cả những vấn đề trên đều có thể được giải quyết triệt để nếu con người làm chủ được nguồn năng lượng, tự tạo năng lượng dồi dào từ nguyên liệu phong phú trong vũ trụ, với độ độc hại tối thiểu cho môi trường sống. Tự do về năng lượng sẽ đưa nền kinh tế lên đẳng cấp hậu trí thức. Khi đó, nền kinh tế sẽ bảo đảm được nhu cầu vật chất cho toàn thể nhân loại, giáo dục miễn phí giúp nâng cao trình độ trí thức của mọi người, để cùng tham gia vào kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người: kỷ nguyên của thanh bình và bác ái trong quan hệ người, cũng như của hợp tác và hợp nhất để chinh phục những hành tinh xa xôi.
Nền kinh tế nào sử dụng “giá trị thặng dư” vào các hoạt động sau đây sẽ đánh mất khả năng thịnh vượng trong tương lai:
5f) Tích lũy “giá trị thặng dư”:
Đây là hình thức thông dụng nhất từ xưa đến nay để duy trình thành quả thịnh vượng. Nếu con người không có lòng tin vào cơ chế kinh tế hiện tại, hoặc được bảo vệ quyền tư hữu chính đáng, họ sẽ tích lũy “giá trị thặng dư” vào quý kim thường dùng trong phương tiện trao đổi. Càng nhiều người đeo đuổi mục tiêu này, nền kinh tế càng mất đi phương tiện thanh toán, càng tiêu dùng tài nguyên quý giá vào việc khai thác quý kim, không thể chú trọng vào việc nâng cao “giá trị gia tăng”. Đầu tư “giá trị thặng dư” vào các nguồn tài nguyên hữu hạn như đất đai với mục đích tích lũy, đầu cơ, thay vì để sinh ra “giá trị gia tăng”, sẽ làm người đầu tư giàu hơn về nguồn “lợi nhuận tương đối”, nhưng làm bản thân họ và toàn xã hội càng bị nghèo thêm về giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”.
5g) Thao túng quyền lực chính trị:
Đây là biện pháp thông thường của những người đã thành công và thành đạt, muốn bảo vệ thành quả thịnh vượng bằng cách áp chế quyền lực thay vì chấp nhận cạnh tranh kinh tế. Thay vì đầu tư “giá trị thặng dư” để tìm cách nâng cao “giá trị gia tăng”, họ lại đổi lấy quyền lực chính trị, để bảo toàn “giá trị thặng dư” đó. Trong xã hội không có tự do kinh tế, tranh thủ hoặc thao túng quyền lực chính trị là bản tính tự nhiên của con người, bởi vì những lợi thế sau đây:
- Ngăn cấm đối thủ cạnh tranh luôn hiệu quả và dễ thực hiện hơn là tìm cách nâng cao “giá trị gia tăng”.
- Áp đặt lên yêu cầu thị trường luôn mang lại kết quả mong muốn hơn là bỏ công tìm hiểu vào nhu cầu tiêu thụ.
- Kiểm soát thị trường trao đổi luôn mang lại nguồn “lợi nhuận tương đối” cao hơn là tham gia vào thị trường tự do.
- Chiếm đoạt quyền sở hữu luôn mang lại sự giàu có nhanh hơn bất kỳ thành quả lao động nào.
- Kìm hãm trình độ trí thức lao động luôn bảo đảm địa vị giàu sang trong xã hội, không sợ bị tiến bộ của trí thức con người đào thải.
Xã hội nào cho phép dùng quyền lực chính trị để bảo toàn “giá trị thặng dư” ở hiện tại, sẽ làm triệt tiêu tiến trình làm nâng cao “giá trị gia tăng” và đánh mất khả năng thịnh vượng trong tương lai.
5h) Kìm hãm tiến bộ trí thức lao động:
Trong nền kinh tế được cạnh tranh tự do, đây là biện pháp thường dùng của các tập đoàn lớn, hoặc cá nhân đã thành đạt để bảo vệ độc quyền thành quả thịnh vượng. Những ý tưởng hay, kỹ thuật mới nếu được áp dụng sẽ thay thế toàn bộ sản phẩm hoặc dịch vụ họ đang cung cấp. “Phá hủy do sáng tạo” là quá trình trong đó những gì con người đang sử dụng hoặc đã bỏ công xây dựng, sẽ bị thay thế hoàn toàn bằng các loại sản phẩm hoặc dịch vụ tương đương, có giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” vượt bậc, phục vụ được càng nhiều người, nhưng sẽ xóa bỏ đặc quyền kinh tế của thiểu số người. Nếu thiểu số người đó, đang nắm giữ quyền lực kinh tế, ý thức được kỹ thuật hoặc ý tưởng mới, họ sẽ có nhiều cách ngăn chặn quá trình này, kìm hãm đà tiến bộ của trí thức lao động. Đây là vấn đề của mọi xã hội, bất kể thể chế chính trị hoặc trình độ phát triển kinh tế. Xã hội nào có ý chí chấp nhận quá trình phá hủy do sáng tạo, ngăn ngừa hữu hiệu vấn đề trên, sẽ thu hút và đào tạo được nhiều nhân tài, bảo đảm được thành quả thịnh vượng trong tương lai. Xã hội nào chuyên tiếc nuối thành quả vừa đạt được, bảo vệ đặc quyền kinh tế của thiểu số người, sẽ đánh mất cơ hội trở nên thịnh vượng. Vấn đề này sẽ được khảo sát thêm trong chương IX (“Quan hệ vĩ mô giữa thặng dư, tiêu dùng, và đầu tư”).
6. Đối tượng phục vụ:
Đối tượng phục vụ là yếu tố “nhân” trong sự thịnh vượng, là kết quả của câu hỏi “sản xuất cho ai”. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến khả năng đạt được thành quả thịnh vượng. Với sự hạn chế về tài nguyên và phân hóa trong quyền tư hữu lẫn trí thức lao động, đối tượng được ưu tiên phục vụ thông thường là những người giàu có hoặc đạt năng suất lao động cao. Một người chỉ làm chừng đó giá trị sản phẩm không thể nhận hơn số lượng tương đương từ xã hội. Quan điểm cực đoan cổ điển tiêu biểu về giới hạn của tài nguyên là từ nhà kinh tế học người Anh, ông Thomas Robert Malthus. Ông Malthus cho rằng tài nguyên gia tăng theo cấp số cộng trong khi đó dân số lại tăng trưởng theo cấp số nhân. Sự thiếu hụt về lương thực và gia tăng bệnh tật là điều tất yếu; hoặc chiến tranh là hệ quả thiết yếu, để cân bằng dân số với tài nguyên. Xã hội không thể nào đáp ứng được hết nhu cầu của tất cả mọi người.
Lịch sử đã chứng minh rằng giới hạn của sự thịnh vượng là do trình độ trí thức lao động, chứ không phải bị hạn chế bởi tài nguyên thiên nhiên. Nhân loại đã may mắn sở hữu hành tinh giàu có và đa dạng về tài nguyên nếu họ biết cách sử dụng và hiểu rõ trách nhiệm của mình. Thành quả cuộc cách mạng xanh nhờ vào những tiến bộ của khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắt đầu vào những năm 1950, đã xóa tan nguy cơ thiếu hụt lương thực trên toàn cầu. Ngày nay nếu cần thiết, một nước Mỹ có thể cung cấp nhu cầu lương thực cho toàn thể dân số thế giới. Giới hạn về tài nguyên hoặc vốn tư bản không phải là nguyên nhân để các xã hội nghèo không thể đáp ứng nổi nhu cầu sống cho tất cả mọi người.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự túng thiếu và vòng lẩn quẩn nghèo khó là do tầm nhận thức của con người. Bất công về cơ hội kinh tế luôn kéo theo nỗi thống khổ của đa số và khơi sâu hố giàu nghèo trong xã hội. Cơ hội kinh tế bất công là khi xã hội còn tồn tại điều nghịch lý sau: có nhiều người muốn làm việc, cần nhu cầu sống đa dạng, mang tinh thần ham cầu tiến, có năng lực việc làm đầy đủ, sẽ đạt trình độ trí thức cao, nhưng không được có cơ hội vươn lên. Vấn đề quan trọng cần giải quyết là ai sẽ tạo cơ hội kinh tế công bằng cho họ vươn lên? Điều này tuỳ thuộc vào tầm nhận thức của con người, luôn phản ảnh qua thực tế xã hội như sau:
a) Đa số phục vụ thiểu số: nền kinh tế với thành quả thịnh vượng bị lệ thuộc hoặc phụ thuộc; luôn tự bó buộc vào sự hạn chế của tài nguyên và vốn tư bản.
b) Thiểu số bố thí đa số: nền kinh tế theo quan niệm rằng chính quyền là công cụ để giải quyết mọi bất cập trong phân hóa giàu nghèo. Nếu quan niệm chính quyền là công cụ duy nhất, thực chất của giải pháp là tương đương với sự bố thí.
c) Đa số phục vụ đa số: đây là nền tảng của kinh tế thịnh vượng tự chủ. Xã hội nghèo nào nhận thức được điều này, kết hợp với quyền tự do kinh tế (mục 7), sẽ phát sinh thêm nhiều cơ hội kinh tế công bằng cho mọi người. Với thời gian, xã hội sẽ trở nên thịnh vượng, và đạt được quyền tự chủ trong nền kinh tế.
6a) Đa số phục vụ thiểu số:
Đây là hình thức phổ biến nhất xưa nay trong xã hội loài người. Lòng ham muốn của con người thường vượt quá khả năng tài nguyên, môi trường cung cấp được, nên đa số người bị buộc phải phục vụ tiện nghi sống của thiểu số đang nắm giữ quyền lực kinh tế, để đổi lấy nhu cầu sống tối thiểu. Như đã đề cập ở trên (mục 5g), thao túng quyền lực chính trị là phương tiện dễ dàng nhất, hiệu quả nhất cho kẻ mạnh duy trì và mở rộng quyền lực kinh tế.
Trong xã hội không có tự do kinh tế, thành phần đa số rất khó có cơ hội vươn lên, vì theo quy luật bù trừ, đó sẽ là hiểm họa đối với đặc quyền và đặc lợi của thành phần thiểu số. Trong nền kinh tế này, sự thịnh vượng thường là kết quả bù trừ vì nguồn tài nguyên chỉ có hạn. Do đó, muốn duy trì thành quả thịnh vượng, thiểu số quyền lực phải nắm giữ độc quyền phân phối lợi nhuận. Họ chiếm hữu phần lớn “giá trị gia tăng”, trả công lao động cho đại đa số bằng phần nhỏ của “giá trị thặng dư”. Điều này cũng giống như nhận xét của Karl Marx, cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản, nguồn lợi nhuận đó là sự chiếm đoạt từ thành quả lao động của đại đa số. Kết quả thịnh vượng luôn mang tính lệ thuộc và không thể đạt được giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cao vì những nguyên nhân sau:
- Yếu tố “chủ”: thiểu số giàu ít có nhu cầu gia tăng của cải tư hữu, chỉ chú trọng đến việc bảo tồn tài sản đang sở hữu. Họ không bị áp lực phải sử dụng nguồn tài nguyên hữu hạn để mang lại giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cao nhất.
- Yếu tố “nội”: họ ít cần và thường không thiết đến những nhu cầu mới về vật chất làm gia tăng mức độ tiện lợi, tiện nghi để phục vụ thị trường nội địa. Hưởng thụ những nhu cầu đó bằng hình thức phục dịch, đối với tâm lý con người, luôn hơn hẳn mọi tính ưu việt của sản phẩm vật chất. Đối với nền kinh tế có độ lệ thuộc cao, nhu cầu tiêu thụ của họ luôn theo sau nhu cầu tiêu dùng xa xỉ của những xã hội giàu mà nền kinh tế họ đang lệ thuộc vào. Để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ, cách dễ làm nhất là giữ thấp giá nhân công nội địa để làm gia tăng “giá trị thặng dư” khi giao dịch xuất khẩu, đánh mất điểm tựa cho nội lực thịnh vượng.
- Yếu tố “ngoại”: đối với nền kinh tế lệ thuộc, xuất nhập khẩu là dùng tài nguyên và nhân lực nội địa để đổi lấy: nhu cầu sống thiết yếu, nhu cầu tiêu thụ xa xỉ, và nhu cầu tích lũy làm giàu. Trong nền kinh tế nội địa, điều kiện trao đổi bị kiểm soát, thông tin trao đổi bị thao túng, phương thức trao đổi không tin cậy, hệ thống trao đổi yếu kém, và thủ tục trao đổi rườm rà. Những điều này không phải là sự yếu kém, mà là sức mạnh bảo vệ đắc lực đặc quyền và đặc lợi kinh tế của giai cấp họ.
- Yếu tố “viễn”: với quyền thao túng tài nguyên kinh tế, họ sẽ không đầu tư phát triển sản phẩm họ không hề thiết đến; mà chỉ chú trọng vào nhu cầu phục dịch thay cho dịch vụ. Phần lớn “giá trị thặng dư” khi đầu tư đều dùng để gia tăng quyền lực chính trị, nhằm bảo vệ địa vị xã hội và thành quả thịnh vượng cho giai cấp họ.
- Yếu tố “thực”: trình độ trí thức lao động nếu thiếu vắng “chủ lực”, “nội lực”, “ngoại lực” và “viễn lực”, sẽ không có động lực tiến triển và điều kiện tiến bộ. Đây là vòng lẩn quẩn của sự nghèo khó: trí thức lao động kém, không thể dùng tài nguyên để đáp ứng được lòng ham muốn, đa số phải phục vụ tiện nghi sống của thiểu số để đổi lấy nhu cầu sống căn bản.
- Yếu tố “an”: là hệ quả do mâu thuẫn giữa người vì bất công trong cơ hội sống, nhưng không có lối thoát bằng phương tiện kinh tế. Xã hội bao gồm đa số người chỉ làm lụng để sinh tồn hoặc phải làm việc bất chính. Trong số đó, nếu không phải lo cho nhu cầu thiết yếu, tương lai gia đình, là sống vô định để hưởng thụ nhanh chóng. Chỉ có số ít là luôn tìm cách giải quyết mâu thuẫn xã hội. Với thời gian, đa số mọi người sẽ nhận thức rằng, mục đích sống không thể mãi vì sự sinh tồn hoặc để làm con thiêu thân. Đây là mâu thuẫn luôn bị dồn nén, sớm muộn sẽ phải được giải quyết bằng nhiều hình thức khác nhau.
Trong xã hội có được tự do kinh tế (mục 7), cơ hội vươn lên của thành phần đa số thường không phải là nhờ phục vụ tiện nghi sống của thiểu số giàu có, mà do đáp ứng nhu cầu sống lẫn nhau theo quy luật cộng hưởng, sẽ bàn trong mục dưới đây (mục 6c).
6b) Thiểu số bố thí đa số:
Đối với thực tế nước ta, đây là mục tiêu của “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Sở dĩ có khái niệm này là thiểu số nắm giữ quyền lực kinh tế nhận thức được rằng, tương lai thịnh vượng của họ tùy thuộc vào cách giải quyết mâu thuẫn trong yếu tố “an”. Định hướng xã hội chủ nghĩa giải quyết mâu thuẫn bằng phương tiện chính quyền, để thiểu số quyền lực tự áp đặt trách nhiệm xã hội lên giai cấp họ và buộc thành phần đang thành đạt phải chia xẻ sự thịnh vượng. Thay vì tự do hóa nền kinh tế, họ lại nắm trọn quyền kiểm soát, nhưng lại tự giác thực hiện nghĩa vụ đối với xã hội. Thực chất điều này là tương đương với sự bố thí.
6c) Đa số phục vụ đa số:
Đây là hệ quả tất yếu của xã hội có được tự do kinh tế (mục 7). Nền kinh tế tự do khi mọi người được tự do và bình đẳng trong việc tìm kiếm cơ hội kinh tế, phục vụ nhu cầu cần thiết của xã hội trong khuôn khổ luật pháp. Nhu cầu sống của họ không còn bị giới hạn bởi hạn chế về tài nguyên hoặc ưu đãi của môi trường. Cơ hội kinh tế thường hiếm hoi, nếu tìm cách duy trì hoặc gia tăng phần phân chia hữu hạn từ nguồn tài nguyên đang khai thác vì bị quy luật bù trừ chi phối. Cơ hội làm giàu luôn nhiều hơn và đa dạng hơn, nếu bỏ công tìm kiếm nhu cầu mới, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú với giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” càng cao, để đạt được nguồn “lợi nhuận tương đối” tối đa. Sự thịnh vượng luôn là kết quả cộng hưởng, tùy thuộc vào trình độ trí thức lao động của con người. Trong nền kinh tế này, cơ hội kinh tế luôn nằm ở đa số, mặc dù ban đầu họ chưa đạt được mãi lực thị trường. Bù lại, họ có những lợi thế sau:
- Yếu tố “chủ”: họ có lòng ham muốn sở hữu của cải vật chất, tư hữu tài sản, tài nguyên, công cụ sản xuất. Họ là số đông trong xã hội, sự thành công của họ sẽ làm gia tăng “chủ lực” của mọi hoạt động kinh tế.
- Yếu tố “nội”: họ có nhiều nhu cầu về sản phẩm làm nâng cao độ tiện lợi, tiện dụng, và tiện nghi trong cuộc sống. Nhu cầu cho bản thân họ cũng là nhu cầu của nhiều người, và ngược lại. Giới thiệu sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu riêng sẽ tìm được thị trường tiêu thụ chung. Chìa khóa thịnh vượng là tìm cách nâng cao giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” của sản phẩm với số lượng lớn, hoặc dịch vụ trên mật độ rộng. Nguồn “lợi nhuận tương đối” từ thị trường này luôn gắn liền với giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” của sản phẩm, hoặc dịch vụ được làm ra. Thu nhập của mọi người tùy thuộc vào giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” từ sản phẩm hoặc dịch vụ do họ góp phần lao động khi mang trao đổi. Đây là điểm tựa vững chắc nhất của nội lực thịnh vượng. Mãi lực trong thị trường xuất nhập khẩu của họ sẽ gia tăng với đà tiến bộ trong trình độ trí thức lao động.
- Yếu tố “ngoại”: đối với nền kinh tế đang bị lệ thuộc, xuất nhập khẩu là dùng tài nguyên và nhân lực nội địa để đổi lấy: nhu cầu sống thiết yếu, nhu cầu nâng cao trí thức lao động, và giới thiệu nhu cầu mới cho thị trường xuất khẩu. Phục vụ thị trường nội địa luôn mang lại lợi ích kinh tế cao hơn là phục vụ thị trường xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu là phương tiện trao đổi để nâng cao trình độ trí thức lao động. Trong nền kinh tế nội địa, điều kiện trao đổi được tự do, thông tin trao đổi phải minh bạch, phương thức trao đổi phải đáng tin cậy, hệ thống trao đổi phải hiệu quả, và thủ tục trao đổi phải đơn giản. Thực hiện những yêu cầu này sẽ phát sinh thêm nhiều cơ hội kinh tế cho toàn xã hội.
- Yếu tố “thực”: mọi người tự nguyện nâng cao trình độ trí thức lao động bằng cách học hỏi kiến thức thiết thực nhất, thực tế nhất, để mang lại lợi ích cao nhất. Kiến thức trở thành công cụ tư duy cho con người thay vì chỉ đơn thuần là giá trị trang sức cho địa vị xã hội. Sự thịnh vượng khi có đầy đủ “chủ lực”, “nội lực”, “ngoại lực”, “nhân lực” và được “cơ lực” (mục 7) điều hợp nhịp nhàng, sẽ sinh được nguồn “thực lực” mạnh mẽ tương đương. Với thời gian, trình độ trí thức của con người sẽ càng gia tăng, nền kinh tế càng thêm được tự chủ.
- Yếu tố “viễn”: muốn bảo vệ thành quả thịnh vượng và tìm kiếm nhu cầu làm giàu, họ sẽ sử dụng hợp lý “giá trị thặng dư” ở hiện tại để đầu tư vào “giá trị gia tăng” trong tương lai. Nền kinh tế khi có được “chủ lực” mạnh; tạo điểm tựa “nội lực” vững chắc; vận dụng “ngoại lực” hợp lý; tập hợp “nhân lực” dồi dào; được “cơ lực” điều hợp nhịp nhàng; tổng hợp nên “thực lực” mạnh ở hiện tại, sẽ tìm được nhiều cách để phát huy thêm “viễn lực” trong tương lại. “Viễn lực” sẽ là “thực lực” của thịnh vượng trong mai sau.
- Yếu tố “an”: mâu thuẫn trong xã hội do phân hóa giàu nghèo luôn có cách giải quyết thỏa đáng bằng cạnh tranh kinh tế. Vấn đề này sẽ được bàn thảo trong chương II (“Quan hệ người và thịnh vượng kinh tế”). Kết quả của sự cạnh tranh luôn nâng cao giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cho nền kinh tế. Đa số mọi người sống đều có mục đích nhất định, vững lòng tin ở tương lai, và chủ động được vận mệnh của bản thân.
7. Tự do kinh tế:
Tự do kinh tế là cơ chế điều hợp guồng máy kinh tế. Lòng ham muốn sở hữu là nguồn năng lượng làm vận hành guồng máy này. Cơ chế vận hành càng nhịp nhàng, các bộ phận cấu thành càng được thêm tôi luyện với thời gian. Ngược lại nếu mỗi bộ phận đều hoàn hảo, nhưng cơ chế ráp nối, điều hợp không được hoàn thiện hoặc bị vướng nhiều khúc mắc, guồng máy ấy sẽ không hoạt động hết khả năng, thậm chí không thể vận hành nổi. Tự do kinh tế là sự kết hợp hài hòa giữa các bộ phận trong guồng máy kinh tế, là cơ chế quyết định đến khả năng tự chủ của nền kinh tế. Đó là “cơ lực” điều phối nhịp nhàng “chủ lực”, “nội lực”, “ngoại lực”, và “nhân lực” để tổng hợp nên “thực lực” mạnh mẽ và hiệu quả ở hiện tại; đồng thời nghiên cứu và xây dựng nên “viễn lực” cường thịnh trong tương lại. Tự do kinh tế là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền kinh tế thịnh vượng tự chủ. Tự do kinh tế là mơ ước của những người chưa đạt thành quả; là lý tưởng của những người đang thành công; là nỗ lực phấn đấu của những người đang thành đạt; nhưng lại là ác mộng đối với những người đã thành công và thành đạt, không còn sức cạnh tranh. Tự do kinh tế không phải tự nhiên mà có, mà phải do ý chí của mọi người tạo thành. Tự do kinh tế là những quyền như sau:
a) Quyền được tư hữu và sử dụng tư hữu: bảo vệ “chủ lực”, nguồn năng lượng của sự thịnh vượng.
b) Quyền được tìm kiếm và hưởng thụ nhu cầu sống: gia tăng “nội lực” của sự thịnh vượng.
c) Quyền tự do trao đổi: thu hút và tổng hợp “ngoại lực” của sự thịnh vượng.
d) Quyền tự do cạnh tranh: tạo điểm tựa cho “nội lực”, thu hút số đông “nhân lực”, phát sinh ra “thực lực” mạnh cho sự thịnh vượng.
e) Quyền được hưởng quyền lợi từ thành quả lao động: chuyển được mọi nguồn lực thịnh vượng để cải thiện tiêu chuẩn sống, cải tiến nhu cầu sống, sẽ càng thu hút số đông “nhân lực” tham gia hiệp lực để tạo nên sự thịnh vượng.
f) Quyền được bảo vệ quyền lợi chính đáng: bảo vệ thành quả hiện tại của “thực lực”, đặt nền tảng để phát triển nên “viễn lực” cho tương lai.
g) Quyền tranh đấu để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng: thành quả thịnh vượng của mọi người phải thuộc quyền chủ động của họ, không cần nhờ cậy vào sự ban phát, lệ thuộc vào sự dẫn dắt, và phụ thuộc vào sự sáng suốt của thiểu số người.
Những quyền tự do kinh tế trên sẽ được khảo sát thêm chi tiết trong chương III (“Tự do và các nguyên tắc tự do”).
Kinh tế là hoạt động trong đó con người dùng trí thức lao động để phục vụ nhu cầu sống. Trên lý thuyết, thành quả thịnh vượng, địa vị xã hội là cách thức để xã hội chấp nhận giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” do cá nhân góp phần tạo nên trong nền kinh tế. Bởi con người không thể đo lường chính xác được giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”, nên thị trường trao đổi là công cụ công bằng nhất để giúp họ lượng định giá trị tương xứng bằng nguồn “lợi nhuận tương đối”. Trong điều kiện thực tế lý tưởng, thành quả thịnh vượng, địa vị xã hội là cách thức để xã hội công nhận “giá trị gia tăng” từ hiệu quả đóng góp của cá nhân cho nền kinh tế. Do điều kiện sống không bao giờ lý tưởng, nên quá trình cạnh tranh là hình thức hiệu lực nhất để xã hội quyết định mức độ đóng góp hiệu quả thông qua “giá trị thặng dư” trong thị trường trao đổi.
Thị trường cạnh tranh phản ảnh quá trình tranh giành về thành quả thịnh vượng và địa vị xã hội của mọi người tham gia. Đó là quá trình đuổi bắt của quy luật bù trừ với lợi ích cộng hưởng. Khi bị quy luật bù trừ chi phối, mọi người sẽ tạo cơ hội kinh tế bằng cách tìm kiếm lợi ích cộng hưởng. Khi lợi ích cộng hưởng bị quy luật bù trừ chi phối, chu kỳ đuổi bắt lại tiếp diễn từ đầu. Kết quả là xã hội luôn phát triển theo chiều hướng thịnh vượng tịnh tiến, bền vững với thời gian. Thị trường cạnh tranh là mâu thuẫn giữa mọi người được tóm tắt như sau: nỗ lực phấn đấu nhằm vươn lên đến thành công; đối với, cật lực ngăn cản để duy trì sự thành đạt. Những người chưa được thành quả luôn phấn đấu để đạt thành công. Những người đang thành công, hoặc duy trì sự thành công, hoặc tranh đấu để trở nên thành đạt. Những người đã thành đạt luôn cật lực để bảo vệ trọn vẹn thành quả đang có. Trong bất kỳ xã hội nào, số lượng người chưa thành đạt, muốn phấn đấu vươn lên, bao giờ cũng chiếm đa số so với thành phần đã thành đạt. Tự do kinh tế là thị trường cạnh tranh trong đó, ý chí muốn vươn lên để thành đạt của đa số, luôn chiến thắng lòng ích kỷ mong giữ nguyên địa vị của thiểu số. Dù luôn chiếm giữ số đông, nhưng tự do kinh tế không phải là điều kiện tự nhiên và càng không phải là quyền đặc nhiên mà có, mà đa số chưa thành đạt phải luôn tranh đấu và phấn đấu mới hưởng được quyền tự do tự nhiên ấy.
8. Kết luận:
Hiện tượng thường thấy trong chu kỳ suy thoái của nền kinh tế hiện đại là: nhiều xí nghiệp có người muốn làm việc, có đầy đủ nguyên vật liệu, nhưng không tìm được thị trường tiêu thụ, nên buộc nhân viên phải thôi việc. Điều này phản ảnh sự yếu kém về nội lực và viễn lực trong sự thịnh vượng. Đối với nền kinh tế có tính lệ thuộc cao, thay đổi về nhu cầu nơi thị trường giàu, luôn dẫn đến nỗi thống khổ và cảnh bần cùng của người lao động. Có con người, có ý chí, có khả năng, thậm chí còn có trình độ trí thức lao động cao, nhưng vẫn để phí phạm nguồn “nhân lực”, đó là làm suy yếu đi “thực lực” và “nội lực” của sự thịnh vượng. Trong xã hội có tự do kinh tế, con người sẽ tìm cách chuyển đổi các giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đã biết sang nguồn “lợi nhuận tương đối”, nhờ nắm bắt được nhu cầu mới của xã hội, rút ngắn được thời gian suy thoái kinh tế. Trong xã hội không có tự do kinh tế và bị lệ thuộc thịnh vượng, đa số người lao động sẽ phải trông chờ vào kết quả hồi phục kinh tế của xã hội giàu, dù rằng đáp ứng nhu cầu cho thị trường nội địa thừa sức phát sinh ra nhiều hoạt động kinh tế, làm triệt tiêu quá trình suy thoái trong nền kinh tế nội địa.
Điều nghịch lý luôn tồn tại trong các nền kinh tế ngày nay là: khó khăn trong kinh doanh đối với các doanh nghiệp thường là do thừa về nhu cầu sản phẩm hoặc dịch vụ, chứ không phải vì thiếu hụt về tài nguyên gây nên. Trong khi đó, nhu cầu của mọi người trong xã hội lúc nào cũng thiếu chứ không bao giờ thừa. Giải quyết được thỏa đáng điều nghịch lý này với giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” càng cao, là tạo lập được nguồn gốc cho nền kinh tế thịnh vượng và tự chủ.
II. Thực trạng kinh tế Việt Nam:
1. Tiềm năng kinh tế:
Thế mạnh về tài nguyên của nước ta là không cần lo đến hai vấn đề an ninh trọng yếu là lương thực và năng lượng. Sản lượng nông nghiệp trên mỗi hecta đất đang còn thấp so với tiêu chuẩn quốc tế, nhưng vẫn dư lương thực xuất khẩu. Trữ lượng dầu mỏ ước tính khoảng từ 11 đến 33 tỉ thùng, có thể đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia thêm vài thập niên nữa. Tuy nhiên, tiềm năng tài nguyên chỉ là thế mạnh căn bản, nguồn gốc thịnh vượng luôn là ở con người. Xét về yếu tố chủ lực và nội lực thịnh vượng, mọi người dân ta đều có lòng ham muốn sở hữu vật chất và ham thích nhiều nhu cầu mới. Dù lòng ham thích, đua đòi vật chất, theo quan điểm truyền thống là căn bệnh xã hội, nhưng đó là nội lực kích cầu để phát triển kinh tế. Căn bệnh xã hội chỉ tồn tại khi mâu thuẫn trong quan hệ người không được giải quyết thỏa đáng. Thực lực và nội lực thịnh vượng đang tiềm ẩn khi nước ta có trên 80 triệu đồng bào chăm làm việc và ham tiêu thụ. Con số này không chỉ đơn thuần là nguồn nhân công dồi dào và khối người tiêu thụ đông đảo, hầu hết dân số đều biết đọc và biết viết. Đó là tiềm năng nhân sự có trình độ trí thức cao với nhu cầu sống đa dạng, nhưng chưa được phát huy đúng mức. Thế mạnh viễn lực thịnh vượng của nước ta là thói quen tiết kiệm từ thu nhập của người dân ta rất cao và năng lực tài chính của đồng bào hải ngoại ngày một thêm vững mạnh. Nếu có được môi trường đầu tư thông thoáng, nền kinh tế ta sẽ huy động được số lượng lớn vốn đầu tư mà không cần phải tốn nhiều thời gian tích lũy. Tóm lại, khi tài nguyên quốc gia thừa sức cung cấp nhu cầu lương thực và năng lượng tiêu dùng, thì vấn nạn của xã hội là không cần phải lo đến nhu cầu cơm no áo ấm cho hơn 80 triệu công dân. Vấn đề chính là tạo cho họ thêm nhiều cơ hội làm ăn sinh sống, được chia xẻ lợi nhuận tương xứng với đóng góp của bản thân, và cho họ quyền hưởng thụ nhu cầu sống ngày một đa dạng hơn, tiện lợi hơn, tiện nghi hơn, và cao cấp hơn.
2. Định hướng hiện tại:
Nhờ chính quyền hiện nay thi hành đổi mới kinh tế cách đây hai mươi năm mà nước ta mới phát huy được phần nào tiềm năng thịnh vượng sẵn có, bao gồm:
- Chủ lực: bãi bỏ tập thể hóa nông nghiệp và thương nghiệp trả lại quyền tư hữu cho nông dân và tiểu thương, tái tạo được chủ lực thịnh vượng ngay tức khắc.
- Thực lực: mở cửa đầu tư ngoại quốc đẩy mạnh sức đột tiến trong trình độ trí thức lao động, nâng cao được thực lực thịnh vượng trong thời gian ngắn.
- Cơ lực: mở rộng kinh tế đa thành phần mang lại dân ta phần nào tự do trong việc mưu sinh, giải quyết được một phần vướng mắc trong cơ chế thịnh vượng so với thời bao cấp.
- Ngoại lực: nới lỏng kiểm soát thương nghiệp tạo điều kiện thông thương thuận lợi, tái lập được ngoại lực thịnh vượng ngay lập tức.
- Nội lực: áp dụng quy luật kinh tế thị trường cho phép mọi người tự do và chủ động được một phần trong nhu cầu sống, làm tái sinh nội lực thịnh vượng ngay tức thời.
Thành quả thịnh vượng của nền kinh tế ta hiện nay gia tăng gấp bội so với thời kỳ tập trung bao cấp. Đây là kết quả mà mọi người Việt Nam đều mong đợi và kỳ vọng sau khi kết thúc cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc. Tuy nhiên, thay vì tạo điều kiện thuận lợi để toàn dân ta phát huy tối đa mọi tiềm năng thịnh vượng của đất nước, chính sách chính quyền hiện nay lại luôn hạn chế ba nhân tố thuộc về bản chất, trói buộc bốn nhân tố thuộc về cơ chế, nhưng lại muốn phấn đấu để đạt được thịnh vượng. Thành quả thịnh vượng khi đạt được luôn mang nặng tính lệ thuộc và chỉ đem lại được lợi ích cho thiểu số người.
Chính sách kinh tế của chính quyền hiện nay là áp dụng quy luật kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận theo ngôn từ, mục đích của chính sách này là vừa phát triển kinh tế dựa vào hiệu quả của nền kinh tế thị trường, vừa mang lại tính nhân bản để giảm thiểu tính nghiệt ngã từ sự hiệu quả đó. Tuy nhiên, xã hội nhân bản và xã hội chủ nghĩa là hai quan niệm cùng chung mục đích, nhưng khác biệt nhau về phương tiện. Xã hội nhân bản quan niệm chính quyền chỉ là một trong nhiều phương tiện để thực hiện mục đích. Quan niệm xã hội chủ nghĩa gắn liền với tư tưởng của chuyên chính vô sản, chủ trương dùng chính quyền và bạo lực làm công cụ duy nhất để đạt được mục đích. Với quan niệm này, luận theo quan điểm kinh tế học, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa chứa đựng đầy nghịch lý, bởi các mục đích đối nghịch không thể dung hòa nhau gây nên.
2.1) Chủ lực thịnh vượng: nghịch lý về khả năng tư hữu, quyền tư hữu, quyền được bảo vệ tư hữu, và quyền lợi từ quyền tư hữu. Quyền lực nào sẽ bảo vệ quyền tư hữu cho những người thành đạt? Quyền lực nào sẽ bảo vệ quyền tư hữu cá nhân trước yêu cầu trưng dụng vì danh nghĩa lợi ích chung? Liệu rằng luật pháp xã hội có phải nhượng bộ trước quyền lực của chuyên chính vô sản? Nếu dùng chính quyền để thực hiện lẽ công bằng trong quyền tư hữu, mức gia tăng về tài sản tư hữu của những người thành đạt kinh tế sẽ được bảo vệ ra sao? Đâu là giới hạn của quyền tư hữu? Nếu bị giới hạn quyền tư hữu, tính công khai trong tài sản tư hữu sẽ không còn nữa.
2.2) Cơ lực thịnh vượng: mục tiêu hàng đầu của kinh tế thị trường là đạt được lợi nhuận tối đa, dùng bất kể phương tiện kinh doanh. Mục tiêu chính của định hướng xã hội chủ nghĩa là san bằng khoảng cách phân hóa giàu nghèo, bằng bất kỳ biện pháp chính trị. Để thực hiện cả hai mục tiêu đó, chính quyền quyết định thành phần kinh tế nào đạt được lợi nhuận tối đa và thành phần nào buộc phải chia xẻ lợi nhuận. Đây là cơ chế áp đặt, độc quyền, và độc đoán điều phối nền kinh tế. Vướng mắc trong cơ chế kinh tế luôn được giải quyết bằng quyền lực chính trị thay cho kết quả cạnh tranh từ thị trường.
2.3) Nhân lực thịnh vượng: bất cập trong cơ chế kinh tế luôn dẫn đến tình trạng nghịch lý về đối tượng được phục vụ. Những người thành đạt từ phương tiện chân chính phải chia xẻ trách nhiệm xã hội. Ngược lại, người làm giàu từ hoạt động bất chính lại được hưởng trọn kết quả chiếm đoạt. Bởi dùng phương tiện bất chính, nên họ luôn có khả năng che giấu thu nhập hoặc của cải sở hữu hơn là những người làm ăn chân chính. Hơn nữa, do cơ chế phân phối lợi nhuận không được công minh, nên giá trị thặng dư trong nền kinh tế thay vì dùng vào trong mục tiêu xã hội, lại thuộc về sở hữu của thiểu số người quyền lực hoặc giàu có một cách bất chính. Định hướng xã hội chủ nghĩa là sự biện minh cho hình thức đa số phục vụ lợi ích của thiểu số.
2.4) Nội lực thịnh vượng: trong xã hội muốn giàu sang phải dùng phương tiện bất chính, nội lực tiêu thụ của giới giàu thường cho nhu cầu phô trương hơn là cần tiện dụng. Họ dùng nhu cầu phục dịch trong nước, chuộng sản phẩm xa xỉ ngoại nhập, đánh mất đi điểm tựa nội lực thịnh vượng. Mặt khác, do đa số phải phục vụ lợi ích cho thiểu số, nhu cầu tiêu dùng của đa số thường bị quy luật bù trừ chi phối. Họ sẽ không thể nào hưởng được nhiều nhu cầu cao cấp hơn, đáng lẽ ra họ có thể kham nổi. Tìm kiếm và đáp ứng nhu cầu mới trong xã hội là phương tiện làm giàu chân chính, nhưng những người thành công lại không được bảo vệ quyền lợi chính đáng, hoặc bị cướp đoạt thành quả lao động một cách bất công. Nội lực thịnh vượng của đa số luôn bị hạn chế vào những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống.
2.5) Ngoại lực thịnh vượng: hạn chế về nội lực sẽ kìm hãm quá trình thông thương nội địa. Điều kiện trao đổi không còn được tự do nếu chính quyền hiện nay vừa đeo đuổi lợi nhuận tối đa theo quy luật kinh tế thị trường, vừa buộc chia xẻ lợi nhuận theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thiểu số quyền lực sẽ được toàn quyền thao túng thị trường để gia tăng tối đa lợi nhuận và hạ thấp tối thiểu chi phí. Thông tin trao đổi không còn minh bạch, phương thức trao đổi không được thuận lợi, và thủ tục trao đổi không đáng tin cậy, tất cả những điểm yếu kém đó trong thị trường nội địa đều là thế mạnh để duy trì quyền lợi của thiểu số quyền lực. Khi nền kinh tế không thể tự đáp ứng được nhu cầu nội địa, giải pháp duy nhất là phải chuyên gia công, phục vụ nhu cầu thị trường xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ dùng để trao đổi. Nhu cầu tiêu dùng nội địa của nền kinh tế ta luôn bị lệ thuộc vào khả năng tiêu thụ của thị trường xuất khẩu. Theo số liệu của World Bank, giá trị xuất khẩu của ta trong năm 2004 đạt đến hơn 60% tỷ trọng trong tổng sản lượng nội địa (GDP). Do đó, thành quả thịnh vượng của nền kinh tế nước ta là mang nặng tính lệ thuộc.
2.6) Thực lực thịnh vượng: nâng cao trình độ trí thức lao động chỉ mang lại giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” vì đây là hình thức làm giàu chân chính. Thu nhập của một chuyên gia, dù tài giỏi, luôn bị giới hạn vào mãi lực thị trường nội địa và phụ thuộc vào “nội lực” thịnh vượng. Với nền kinh tế bị lệ thuộc, cơ hội gia tăng trình độ trí thức lao động rất thấp, vì khi đa số dân ta không có khả năng tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu, nền công nghiệp ta có rất ít khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chúng ta chỉ có thể làm thợ gia công giỏi chứ khó trở thành nhà thiết kế tài cho các sản phẩm vượt quá khả năng tiêu thụ của mình. Hơn nữa, chúng ta sẽ có rất ít cơ hội thành công trong việc tìm hiểu và tiếp thị sản phẩm phục vụ thị trường tiêu thụ mà nhu cầu sống lại vượt quá mức tưởng tượng của mình. Hiện trạng xã hội đã dẫn đến giá trị thực tế trong xã hội ta, là thực lực thịnh vượng do ở quyền lực chính trị chứ không phải bởi trí thức lao động tạo nên.
2.7) Viễn lực thịnh vượng: thực lực thịnh vượng tùy thuộc vào quyền lực chính trị, do đó viễn lực thịnh vượng phụ thuộc vào kết quả đầu cơ chính trị và duy trì quyền lực chính trị hiện hữu. Lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường luôn gắn liền với quá trình vận động hậu trường chính trị thay cho nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh. Mức độ nhân bản từ định hướng xã hội chủ nghĩa luôn đi đôi với khả năng nhận thức về yếu tố “an” bởi mâu thuẫn kinh tế trong xã hội. Thiểu số quyền lực nếu tự nguyện chia xẻ nguồn lợi nhuận, vì lo cho sự an nguy của giai cấp họ trong tương lai, là việc làm tương đương với sự bố thí.
3. Lý do phải thay đổi định hướng xã hội chủ nghĩa:
Thành phần hưởng lợi nhiều nhất từ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là đảng viên Cộng Sản đang nắm giữ quyền lực chính trị và thiểu số doanh nhân biết tranh thủ ảnh hưởng chính trị. Kế đến là những nhà đầu tư ngoại quốc, nhận nhiều ưu đãi về thuế, chịu ít trách nhiệm về môi trường, sử dụng nhân công với giá rẻ, và được thuận lợi khi khai thác tài nguyên. Với đội ngũ nhân công khá và giỏi, nhà đầu tư ngoại quốc hưởng lợi nhờ đạt “giá trị gia tăng” cao trong sản phẩm hoặc dịch vụ, trả phí tổn với “giá trị thặng dư” thấp trong thị trường nội địa, để thu lại lợi nhuận bằng “giá trị thặng dư” siêu trong thị trường xuất khẩu. Đối với nhà đầu tư ngoại quốc nhắm vào thị trường tiêu thụ trong nước, nguồn lợi nhuận của họ là “giá trị thặng dư” cao tính theo giá tiền tệ nội địa, do chi phí nhân công rẻ. Nguồn lợi nhuận này được chuyển đổi sang ngoại tệ bằng tổng trị giá sản lượng xuất khẩu của nền kinh tế nước ta. Trái nghịch với thực tế của một quốc gia nghèo, kém phát triển, lượng ngoại tệ chi tiêu cho nhu cầu tiêu thụ của thiểu số quyền lực và giàu có trong nước, đang chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số ngoại tệ kiếm được. Do đó, không cần đến giải pháp kinh tế cao siêu, chỉ cần bãi bỏ nỗ lực do chính quyền làm rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo, sẽ mang lại phần nào tính công minh trong quá trình phân phối lợi nhuận quốc gia. Thay vào nhu cầu xa xỉ của thiểu số giàu có, nhưng không ý thức được giá trị đồng tiền, là các nhu cầu thiết yếu, làm gia tăng trình độ trí thức lao động như nâng cấp công cụ sản xuất, hoặc hình thành nội lực thịnh vượng do nâng cao thu nhập của người lao động. Kết quả là nền kinh tế nước ta sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư ngoại quốc nhắm vào thị trường tiêu thụ trong nước, từng bước gia tăng nội lực và thực lực thịnh vượng.
Hiện nay, chính quyền nước ta luôn dành nhiều ưu đãi cho giới đầu tư ngoại quốc và các doanh nghiệp chuyên xuất khẩu. Hệ thống kinh tế quốc doanh vẫn còn độc quyền điều hành nền kinh tế chủ lực của đất nước. Trong khi đó, các doanh nghiệp tư vừa và nhỏ chuyên phục vụ nhu cầu trong xã hội, lại bị kiềm chế, trói buộc bằng nhiều luật lệ, quy định bất hợp lý, chồng chéo nhau. Định hướng xã hội chủ nghĩa không cho phép bất kỳ doanh nghiệp tư hoặc cá nhân nào trở nên giàu mạnh bằng phương tiện kinh tế chân chính. Bất kỳ thành phần ngoài cơ cấu nhà nước có khả năng ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế, đều là hiểm họa đối với định hướng này. Đó là điều nghịch lý vì khi doanh nghiệp hoặc cá nhân trở nên giàu mạnh nhờ làm ăn chân chính, chuyên phục vụ nhu cầu trong xã hội, thành quả thịnh vượng của họ luôn gắn liền với sự phồn thịnh của nền kinh tế nội địa. Với tính liên đới đó, chiến lược kinh doanh vĩ mô hàng đầu của họ là sẽ tìm cách nâng cao sức tiêu thụ của thị trường trong nước, khởi đầu là công nhân họ. Ngược lại, khi sự thịnh vượng của họ gắn liền với hoạt động xuất khẩu, quan tâm hàng đầu của họ bao giờ cũng cố làm giảm giá thành phẩm, trong đó chi phí lao động đóng vai trò chủ lực. Mục đích của định hướng này không phải là nhân bản hóa tính nghiệt ngã của nền kinh tế thị trường, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động, mà dùng để nhân nghĩa hóa tính bạo tàn của chủ nghĩa xã hội, giúp duy trì quyền lực của thiểu số cầm quyền.
Sau hai mươi năm đổi mới kinh tế, đến nay đất nước ta đã xuất hiện nhiều nhà quản lý tài năng, doanh nhân tài giỏi. Sau thời gian làm việc với các công ty nước ngoài, con đường thăng tiến của họ sẽ bị khựng lại, dù rằng tài năng cá nhân còn cho phép họ tiến xa hơn. Lợi nhuận dành cho nhà quản lý thường là thứ yếu, sau khi ưu tiên phân chia lợi tức cho nhà đầu tư. Hơn nữa, thu nhập của họ lại phụ thuộc chủ yếu vào năng xuất lao động của công nhân. Nhà quản lý nào muốn vượt rào cản trên con đường thăng tiến, phải tìm cách nâng cao năng xuất làm việc của công nhân. Đây là mục tiêu cực kỳ khó khả thi, khi nền kinh tế nước ta đang bị lệ thuộc nặng. Nâng cao năng xuất để gia tăng sản phẩm ở phần cung nhằm đáp ứng nhu cầu đang bão hòa của thiểu số giàu hoặc cho thị trường xuất khẩu, sẽ có nhiều khả năng làm giảm sút lợi nhuận kinh doanh. Trên lý thuyết, năng xuất lao động của một người quyết định mức thu nhập cá nhân. Đối với thực tế nước ta, gia tăng năng xuất sản xuất có thể sẽ không mang lại được mức gia tăng tương ứng trong phần thu nhập. Hậu quả là nền kinh tế ta đánh mất nội lực thịnh vượng do cuộc sống của đa số công nhân luôn nghèo khó, vì thu nhập không thể khá nổi. Mãi lực thị trường nội địa yếu kém sẽ kéo theo thu nhập của các nhà quản lý tài ba. Do đó, cơ hội thăng tiến của các nhà quản lý tài, doanh nhân giỏi là tạo lập cơ nghiệp riêng, thay vì cố gắng thăng tiến trong hệ thống công ty ngoại quốc. Đã có tài, ai cũng muốn tạo dựng cơ nghệp riêng, nhưng họ phải từ bỏ môi trường làm việc ổn định, thu nhập cao, đối mặt với bao rủi ro, bất ổn. Nếu bãi bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, chú trọng vào xây dựng nội lực thịnh vượng, sẽ tạo nhiều cơ hội cho các doanh nhân chấp nhận rủi ro. Ban đầu nhiều người trong số họ sẽ thất bại, nhưng xã hội luôn có nhiều cơ hội để họ tận dụng kiến thức và kinh nghiệm. Điều quan trọng nhất là dẫu bị thất bại hoàn toàn trong cuộc phiêu lưu kinh tế, kiến thức và kinh nghiệm của họ, là trí thức lao động, luôn có giá trị hơn sau mỗi lần thất bại. Với tiềm năng thịnh vượng sẵn có, sau một thời gian, nước ta sẽ có được nhiều công ty do dân ta làm chủ, có đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc nội lẫn quốc tế.
Nói tóm lại, bản chất thực của định hướng xã hội chủ nghĩa là bảo vệ độc quyền kinh tế và đặc quyền chính trị của đảng cầm quyền. Trong vai trò điều hành đất nước, khi áp đặt định hướng này lên nền kinh tế quốc dân, chính quyền hiện nay đã không chú trọng đến việc xây dựng thịnh vượng xã hội, mà đảm nhận vai trò vừa cho thuê nhân công lao động, vừa bán đi tài nguyên đất nước.
III. Giới thiệu giải pháp xây dựng nền kinh tế thịnh vượng tự chủ:
Với tiềm năng kinh tế sẵn có, đất nước ta hoàn toàn có đủ mọi khả năng để xây dựng nền kinh tế thịnh vượng tự chủ, mang lại lợi ích đến với từng người dân, từng bước trở thành một trong những cường quốc lớn trên thế giới.
1. Cơ lực thịnh vượng:
Tự do kinh tế là điều kiện tiên quyết nhất để tổng hợp được mọi nguồn lực tạo nên thành quả thịnh vượng. Kinh tế thị trường chỉ là hệ quả của các quyền tự do kinh tế, chứ không phải là công cụ để mang lại quyền tự do kinh tế. Con người phải có quyền tự do trao đổi, tự do cạnh tranh, tự do được hưởng thụ quyền lợi từ thành quả lao động mới hình thành được nền kinh tế thị trường, vận hành theo nguyên tắc “thuận mua vừa bán”. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường nếu không bị điều phối, luôn gây nên vướng mắc trong cơ chế thịnh vượng, vì nó sẽ luôn sinh ra sự độc đoán khi trao đổi, độc quyền trong kinh doanh, và độc hưởng về quyền lợi của những kẻ giàu muốn duy trì sức mạnh kinh tế.
Tự do kinh tế là hệ quả của quyền tự do và công bằng xã hội. Chương II (“Quan hệ người và thịnh vượng kinh tế”) sẽ luận bàn về quyền tự do chính trị, là điều kiện tiên quyết để đạt được mọi quyền tự do. Chương III (“Tự do và các nguyên tắc tự do”) sẽ khảo sát chi tiết về các quyền tự do. Chương V (“Dân chủ và các nguyên tắc dân chủ”) sẽ tìm hiểu hình thức tổ chức chính quyền hiệu quả nhất xưa nay, để thực thi quyền tự do chính trị và các quyền tự do liên đới. Chương IV (“Công bằng và các nguyên tắc công bằng”) sẽ đề cập đến những nguyên tắc công bằng xã hội. Đây là những bước cần thiết để xây dựng cơ lực thịnh vượng cho bất kỳ xã hội, trong đó có đất nước ta.
Chương VII (“Kinh tế thị trường”) tìm hiểu các nguyên tắc trong cơ chế kinh tế thị trường nhằm bảo đảm quyền tự do kinh tế cho mọi người. Chương VIII (“Vai trò của nhà nước”) bàn luận về vai trò nhà nước trong việc điều phối nền kinh tế, cũng như tầm ảnh hưởng của chính sách công đối với các hoạt động kinh tế. Đây là những chính sách công, nhằm duy trì và điều phối hiệu quả cơ lực thịnh vượng cho nền kinh tế nước ta.
2. Chủ lực thịnh vượng:
Chủ lực thịnh vượng là bảo đảm quyền tư hữu bằng quyền lực của luật pháp xã hội. Mọi mâu thuẫn về kinh tế, xã hội phải được giải quyết trong vòng luật pháp, tuân theo luật pháp, và bình đẳng trước luật pháp, mới bảo toàn được tính công khai của tài sản tư hữu và tính công bằng trong quyền tư hữu. Quyền tự do chính trị và lẽ công bằng xã hội là hai yếu tố quyết định đến chủ lực thịnh vượng.
3. Nhân lực thịnh vượng:
Khi được tự do kinh tế, thành quả thịnh vượng cá nhân luôn gắn liền với lợi nhuận từ phương tiện làm giàu chân chính. Do có cạnh tranh bình đẳng, nên lợi nhuận trong kinh doanh luôn phụ thuộc vào sức tiêu thụ của thị trường đó. Người làm giàu chân chính từ xã hội nghèo thường nhận thức được điều này. Dùng giá trị thặng dư để tái đầu tư vào xã hội mang lại thịnh vượng đến cho mình, bao giờ cũng thu được lãi xuất cao hơn là tiêu pha cho nhu cầu phô trương, hoặc mang đi tích lũy. Tự do kinh tế sẽ mang lại nhân lực thịnh vượng, chuyển đổi quan hệ kinh tế từ đa số phục vụ thiểu số sang đa số phục vụ lẫn nhau. Mối tương quan mới là muốn nâng cao lợi nhuận kinh doanh, phải gia tăng mãi lực tiêu thụ của xã hội. Các doanh nhân giỏi, nhà quản lý tài luôn tìm thấy nhiều cơ hội làm giàu bằng cách phục vụ nhu cầu sống của đa số nghèo, hơn là đáp ứng tiện nghi sinh hoạt cho thiểu số giàu. Khi ông Henry Ford, người sáng lập hàng xe Ford, tăng gấp đôi lương công nhân để họ thêm gắn bó với hãng và thu hút nhân tài, các công ty đối thủ buộc phải làm theo. Kết quả ngoài dự kiến của mọi người là chỉ sau vài năm, lợi nhuận ngành kỹ nghệ xe hơi ở Mỹ gia tăng gấp bội vì nhiều người có khả năng mua nổi chiếc xe. Chỉ sau vài thập niên, từ tiện nghi xa xỉ dành riêng cho người giàu, sở hữu một chiếc xe hơi đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống mọi người dân Mỹ.
Nhân lực thịnh vượng là hệ quả tất yếu của quyền tự do kinh tế. Chương XIV (“Phương thức đánh thức tiềm năng kinh tế Việt Nam”) sẽ khảo sát thêm chi tiết về các nguyên tắc cơ bản, để từng bước gia tăng mãi lực tiêu thụ cho mọi người dân nước ta.
Chương VIII khi bàn về vai trò nhà nước, sẽ khảo sát vài mục tiêu xã hội trong chính sách công nhằm mang lại cơ hội kinh tế cho thành phần kém may mắn trong xã hội. Yếu tố “an” trong xã hội phụ thuộc vào cơ hội thuận tiện để mỗi người tự giải quyết triệt để và thỏa đáng được các mâu thuẫn kinh tế trong cuộc sống. Dùng phương tiện kinh tế để giữ “an” cho xã hội, luôn củng cố sức mạnh cho nhân lực thịnh vượng.
4. Nội lực thịnh vượng:
Con đường phát triển truyền thống của các nước trong khu vực là xuất khẩu hàng hóa phục vụ nhu cầu của thị trường Âu Mỹ giàu có. Quan niệm chung của chọ về việc xây dựng nền tảng thịnh vượng là xuất khẩu để tích lũy ngoại tệ. Điều này không khác biệt mấy so với quan điểm của chủ nghĩa Trọng Thương (Mercantilism) ở châu Âu cách đây ba thế kỷ. Để đạt được mục tiêu này, đa phần công dân trong xã hội phải hy sinh quyền lợi kinh tế, chấp nhận thu nhập thấp so với công sức lao động bỏ ra, nhằm gia tăng sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Thực ra tích lũy ngoại tệ nhiều hơn mức cần thiết sẽ gây hai điều thiệt cho nền kinh tế. Đó là mất đi một phần nguồn vốn đầu tư nội địa và phần nào thành quả thịnh vượng khi giá trị ngoại tệ trượt giá. Ưu tiên phục vụ thị trường xuất khẩu sẽ đánh mất đi nội lực thịnh vượng. Xuất khẩu chỉ là phương tiện để gia tăng trí thức lao động với mục tiêu làm phát huy nội lực thịnh vượng. Do đó, tiền đề đặt ra để thu hút vốn đầu tư nhắm vào nhu cầu nội địa là: khi nước ta phát triển được thị trường tiêu thụ cho 80 triệu người tiêu dùng khó tính và đòi hỏi tiêu chuẩn cao, nền kinh tế ta sẽ tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mà thế giới sẽ cần.
Đất nước ta luôn có được các điều kiện “cần” và “đủ” để thúc đẩy nội lực thịnh vượng. Vấn đề chính là không cần tìm biện pháp phát huy, mà phải tìm cách tháo gỡ mọi yếu tố ràng buộc.
5. Ngoại lực thịnh vượng:
Ngoại lực thịnh vượng của nền kinh tế nước ta đang có nhiều khuyết điểm phải được cải cách và nâng cấp toàn diện, từ thượng tầng luật pháp đến hạ tầng kiến trúc. Thượng tầng pháp lý phải bảo đảm điều kiện trao đổi được tự do, thông tin trao đổi được minh bạch, phương thức trao đổi đáng tin cậy, và thủ tục trao đổi phải nhanh gọn. Hạ tầng cơ sở phải cung cấp hệ thống trao đổi hiệu quả và thuận lợi. Phải tạo dựng căn bản ngoại lực thịnh vượng, mới có được môi trường tốt để phát triển ngành tài chính, thị trường tín dụng, mua bán, trao đổi theo chiều hướng thông thoáng và vững mạnh. Thượng tầng pháp luật có nghiêm ngặt, nghiêm chỉnh, và nghiêm minh, cam kết thương mại mới được công minh, công bạch, và công bằng. Hạ tầng kiến trúc có hiệu quả, hiệu nghiệm, và hiệu năng, quá trình thông thương mới được thuận lợi, thuận tiện, và thuận tiến.
Tự do chính trị là điều kiện quyết định tính “nghiêm công” của thượng tầng luật pháp. Chính quyền dân chủ đại diện quyền lợi của đa số dân, là sức mạnh tạo dựng nên mức độ “hiệu thuận” trong hạ tầng cơ sở. Chương VI (“Định chế và hợp chế xã hội”) sẽ khảo sát chi tiết về ngành tài chính và thị trường tín dụng, khi bàn về những điều kiện “cần” và “đủ” để nâng cao đẳng cấp tổ chức của các định chế tài chính nước ta trong tiểu mục về “định chế tài chính”. Chương VI sẽ khảo sát một số nguyên tắc hoạt động của hai định chế thuộc về thượng tầng luật pháp qua tiểu mục “định chế chính quyền” và “định chế pháp lý”.
Chương X (“Tương quan giữa đầu tư của nhà nước và tư nhân”) sẽ thảo luận tác dụng của chính sách công trong thị trường tài chính, nhằm tận dụng tối đa tầm ảnh hưởng của ngoại lực thịnh vượng.
6. Thực lực thịnh vượng:
Hiện nay nước ta luôn bị thua thiệt về mọi mặt khi cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Lợi thế duy nhất của chúng ta là về kinh nghiệm phát triển vì là quốc gia đi sau. Những kinh nghiệm này sẽ giúp chúng ta phát huy được thế mạnh của mình, để đạt giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cao nhất, hoán chuyển được tối đa sang nguồn “lợi nhuận tương đối” mà không phải tốn thời gian thăm dò nhu cầu thị trường. Xây dựng nền tảng thịnh vượng bằng cách nâng cao trình độ trí thức lao động, là phương pháp hay nhất nhằm phát huy triệt để lợi thế duy nhất này của chúng ta. Những kinh nghiệm lịch sử đó đa phần không thể tiếp thu được từ lý thuyết trường lớp, mà phải học hỏi nơi thực tế thương trường. Tiếp xúc và làm việc với cung cách quản lý khoa học của các công ty nước ngoài là môi trường tốt để thụ huấn kinh nghiệm. Đối đầu và cạnh tranh trực tiếp với họ ngay trên thị trường nội địa là cơ hội hay để thử thách kiến thức. Để xây dựng thực lực thịnh vượng vững chắc, nền kinh tế ta phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân tài giỏi, có tinh thần mạo hiểm, phát huy được tối đa tài năng. Tự do kinh tế là điều kiện quan trọng nhất để mang lại môi trường thuận lợi đó.
Những gì con người làm được trong cuộc sống là vô hạn, điều gì qui định được trong luật pháp là hữu hạn. Mọi người phải có quyền tự do mạo hiểm thực hiện mọi điều luật pháp không cấm, thay vì chỉ được làm những gì luật pháp cho phép như hiện nay. Do đó, khả năng tiến triển thực lực thịnh vượng là do ở cơ chế kinh tế và chính trị. Quyền tự do, lẽ công bằng xã hội là hai nguyên tắc căn bản nhất để tạo nên khả năng đó.
Những gì con người ham muốn về vật chất là vô hạn, khả năng sở hữu do công sức lao động mang lại luôn là hữu hạn. Mọi người phải dùng phương tiện chân chính để thỏa mãn lòng ham muốn, thay vì lạm dụng quyền lực bất chính để chiếm đoạt tài sản muốn sở hữu. Cách thức hiệu quả nhất để làm giàu là tìm tòi lợi ích cộng hưởng, thay vì tranh nhau theo quy luật bù trừ. Bảo đảm tự do kinh tế, tự do chính trị, và phát huy nội lực thịnh vượng sẽ phát sinh thêm nhiều cơ hội làm giàu đó.
Những gì đã biết trong kiến thức nhân loại là vô hạn, khả năng học hỏi điều chưa biết của con người là hữu hạn. Mọi người phải hợp tác lẫn nhau để hỗ trợ kiến thức cho nhau, thay vì tìm cách tiếp thu tất cả những gì cần biết. Thực lực thịnh vượng chỉ tổng hợp được sức mạnh khi có sự cộng tác của nhiều người, để nâng cao hiệu quả lũy tiến trong trí thức lao động. Ngạn ngữ phương Tây có câu “kiến thức mang chia xẻ là kiến thức được nâng cao”, hoặc mở rộng ra rằng: kiến thức mang hợp tác là kiến thức được nâng cao lũy tiến. Chương VI sẽ luận bàn chi tiết về đẳng cấp tổ chức của doanh nghiệp trong tiểu mục “hợp chế kinh tế” và tìm hiểu các điều kiện “cần” và “đủ” để nâng cao đẳng cấp tổ chức cho các doanh nghiệp ta.
Những gì con người muốn biết là vô hạn, thời gian học hỏi và tìm tòi luôn là hữu hạn. Mọi người phải toàn quyền tự do lựa chọn kiến thức muốn tiếp thu, thay vì bị nhồi nhét theo lối học từ chương như hiện nay. Trình độ trí thức lao động chỉ tiến triển được, nếu con người có được tự do trong tư tưởng, tự lập trong ý thức, và tự chủ trong nền giáo dục. Chương VI sẽ tìm hiểu mô hình cho hệ thống giáo dục nước ta trong tiểu mục “định chế giáo dục”, nhằm đào tạo nhân tài hội đủ mọi yêu cầu trên.
Con người không thể nâng cao trình độ trí thức lao động nếu sức khỏe yếu kém, hoặc hệ thống y tế không thể chăm sóc được đầy đủ sức khỏe cho họ. Chương VI, tiểu mục “định chế y tế” sẽ tìm hiểu mối quan hệ về quyền lợi trong hệ thống y tế, nhằm tìm hiểu vài giải pháp thiết thực cho thực trạng nền y tế ta hiện nay.
7. Viễn lực thịnh vượng:
Đối với một quốc gia kém phát triển như nước ta, viễn lực thịnh vượng là yếu tố bảo đảm thành quả thịnh vượng đạt được ở hiện tại, sẽ liên tục tiến triển trong tương lai. Với kinh nghiệm phát triển học hỏi được từ các quốc gia đi trước, nền kinh tế ta được nhiều thuận lợi trong lĩnh vực đầu tư vì không cần phải dự đoán hoặc tìm hiểu nhu cầu thị trường trong tương lai.
Mặt khác, trong dân gian ta đang có rất nhiều ý tưởng hay, phát minh có ích, và nhiều cách làm gia tăng giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”, nhưng chưa biết kết quả có đạt được “lợi nhuận tương đối” khi giới thiệu trên thị trường. Đây là cơ hội làm giàu, thông qua lợi ích cộng hưởng, bằng cách khám phá ra nhu cầu mới; hoặc đạt được giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cao, với số lượng nhiều hơn, hậu quả độc hại thấp hơn. Để biến cơ hội thành lợi ích hiện thực, nền kinh tế ta cần thị trường tài chính và các định chế chuyên về đầu tư rủi ro.
Chương IX (“Quan hệ vĩ mô giữa tiêu dùng, thặng dư và đầu tư”) sẽ tìm hiểu mối liên hệ giữa tiêu dùng, thặng dư, và đầu tư để phát triển thị trường tài chính chuyên đầu tư rủi ro. Chương X (“Tương quan giữa đầu tư của nhà nước và tư nhân”) sẽ khảo sát mối quan hệ giữa hai nguồn vốn đầu tư và chính sách công để sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó.
8. Kết luận:
Với tiềm năng giàu mạnh sẵn có, nền kinh tế ta đã đạt được thành quả thịnh vượng nhất thời mà không cần đến tự do chính trị, nhưng sẽ phải trả giá rất đắt. Bản chất thịnh vượng luôn mang nặng tính lệ thuộc và thành quả thịnh vượng là giá trị vay mượn, sẽ phải trả giá đắt bằng hậu quả suy đồi và suy thoái về con người lẫn môi trường trong tương lai. Những gì mà thiểu số đặc quyền, đặc lợi đang vơ vét, tích lũy hiện tại là kết quả chiếm đoạt công sức lao động, đồng thời tước đoạt cơ hội vươn lên của thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau. Đây không phải là bản cáo trạng, mà đó là sự thật mà ai cũng biết, kể cả những người đang trục lợi.
Người Việt Nam khi ở trong nước chỉ nuôi nổi bản thân, nhưng khi sinh sống và làm việc ở nước ngoài, lại có khả năng làm giàu không những cho gia đình, mà còn đóng góp đáng kể vào sự phồn thịnh của quốc gia sở tại. Được trợ vốn tư bản, có trình độ trí thức lao động, nhờ mãi lực thị trường mạnh, là những yếu tố dễ nhận thấy, đã giúp người Việt Nam ta thành công ở nước ngoài. Đó cũng chính là các yếu tố đang có sẵn trong tiềm lực thịnh vượng của đất nước. Điều nghịch lý là tại sao dân ta không có cơ hội phát huy tài năng ở ngay trong nước, mà phải tìm cách từ bỏ đất nước mà ai cũng nặng lòng gắn bó, để tận dụng cơ hội tốt hơn nơi xứ người?
Đất nước ta chứa đựng nhiều điều nghịch lý, người dân ta phải gánh chịu quá nhiều khổ đau. Thiểu số cầm quyền luôn ý thức được bản chất nghịch lý, nhưng họ đang bí lối vì vẫn muốn duy trì đặc quyền, đặc lợi cho giai cấp họ. Đối với người dân ta, ai có cơ hội thoát được khỏi cảnh bất công, nghịch lý đã và đang tìm đưòng ra đi. Đa số còn ở lại hoặc cam chịu kiếp sống lầm than; hoặc giành giật từng cơ hội kinh tế hiếm hoi; hoặc lý tưởng hơn, tìm cách vơi đi nỗi thống khổ; hoặc tệ hại hơn, càng làm gia tính nghịch lý. Nếu còn đọc đến đây, có thể bạn là thiểu số thầm lặng đang tìm cách lật sang trang sử hiện tại của đất nước, gióng sức thúc đẩy quá trình tiến triển của bánh xe thời đại, mang nặng hoài bão xoá bỏ mọi nghịch lý, bất công trong xã hội ta.
Tập tài liệu này dành cho những người như bạn. Chúng ta có thể tự kỷ là số ít, nhưng thực chất chúng ta đang là số nhiều. Chúng ta có thể đang bi quan vì bí lối, nhưng chúng tôi có lòng tin mãnh liệt, thể hiện qua các luận cứ trong chương này, rằng đây là nền tảng lý luận cơ bản cho các giải pháp thiết thực mà đất nước ta đang cần. Chúng ta có thể bị choáng ngợp vì tầm cỡ công việc quá lớn, nhưng việc này sẽ trở nên nhỏ bé nếu so sánh với nỗ lực đấu tranh giành độc lập của cha ông ta xưa nay. Hợp quần chúng ta sẽ khám phá ra sức mạnh, hợp tác chúng ta sẽ tìm thấy niềm tin, và hợp lực chúng ta sẽ đạt đến được mục đích.
Rất ít có quốc gia nào trên thế giới sánh được với nước ta về sự phong phú và nét đặc sắc của nền văn học dân gian qua kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca, câu vè, câu phú, câu đối... Đó là kết quả đóng góp nối tiếp nhau của bao thế hệ tiền nhân nhằm phục vụ nhu cầu văn hóa trong xã hội ta từ xưa. Mai đây, khi chúng ta tạo cơ hội để mọi người dân cùng có quyền tự do cung cấp, đáp ứng nhu cầu vật chất và dịch vụ cho nhau, chắc rằng trong tương lai sẽ có ít quốc gia nào bì được với nước ta về mẫu mã đa dạng, số lượng phong phú, cũng như chất lượng tuyệt hảo của các loại sản phẩm, sản thuật được thiết kế tại Việt Nam, với ưu tiên phục vụ cho mọi người dân Việt Nam. Đó là mục đích tối hậu từ thành quả thịnh vượng kinh tế mà chúng ta muốn đạt được.
Người viết giữ bản quyền. Độc giả tự do truyền bá, nếu truyền đạt được là điều rất mong muốn, nhưng không được sử dụng với mục đích thương mại hoặc lợi nhuận.
12/2005
(C) 2005 Nguyên Long
Thịnh vượng kinh tế là quá trình tạo thành và tích lũy của cải vật chất có ích trong cuộc sống, được nhiều người trong xã hội muốn sở hữu. Lý do muốn sở hữu vì:
- Bản chất hoặc giá trị của vật chất giữ vai trò thiết yếu trong đời sống, gia tăng tiện nghi cho cuộc sống, hoặc phù hợp với sở thích cá nhân.
- Của cải là phương tiện trao đổi dịch vụ hoặc vật chất để thỏa mãn lý do ban đầu.
- Của cải vật chất là phương tiện thực hiện dịch vụ hoặc làm ra vật chất để phục vụ lý do ban đầu.
Hoạt động kinh tế là kết quả của ba câu hỏi thường được đề ra trong các học thuyết kinh tế: “sản xuất cái gì? sản xuất làm sao? và sản xuất cho ai?” Nền kinh tế có được thịnh vượng hay không đều tùy thuộc vào những giải pháp thực tế của ba câu hỏi trên. Điều này chỉ phụ thuộc phần nào vào điều kiện thiên nhiên. Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, hay ưu đãi về khí hậu, môi trường, chỉ mới là tiềm năng kinh tế, nếu con người chưa biết cách sử dụng. Nguồn gốc của sự thịnh vượng là ở con người và lệ thuộc vào những yếu tố sau:
1) Quyền tư hữu là yếu tố “chủ” trong sự thịnh vượng. Mọi người phải có lòng ham muốn sở hữu. Có ham muốn sở hữu, mới sinh ra nhu cầu mới trong cuộc sống. Nhu cầu sống càng cao, càng đa dạng, càng tiện nghi, xã hội càng được thịnh vượng.
2) Nhu cầu thị trường là yếu tố “nội” trong sự thịnh vượng, ảnh hưởng đến giải đáp cho câu hỏi “sản xuất cái gì?”. Mọi người không được bằng lòng với nhu cầu đang có. Một khi đạt được những nhu cầu thiết yếu, họ phải đòi hỏi thêm nhiều nhu cầu khác cao hơn, tiện nghi hơn. Với thời gian, các nhu cầu một thời là xa xỉ, lâu dần sẽ trở nên thiết yếu trong đời sống hằng ngày.
3) Trí thức lao động là yếu tố “thực” trong sự thịnh vượng, xác định giải đáp cho câu hỏi “sản xuất làm sao?”. Mọi người phải biết sử dụng tài nguyên sẵn có để phục vụ nhu cầu sống lẫn nhau với lợi nhuận kinh tế tối đa. Lợi nhuận kinh tế là giá trị gia tăng phát sinh từ công việc chế biến vật chất hoặc cung cấp dịch vụ. Ba nhân tố trên đều thuộc về bản chất của người, từ đặc tính con người tạo nên.
4) Phương tiện trao đổi là yếu tố “ngoại” trong sự thịnh vượng. Mọi người phải tìm ra được phương thức tối ưu để trao đổi với nhau được dễ dàng. Thị trường trao đổi càng lớn, cơ hội kinh tế cho mỗi người càng nhiều, vì tài nguyên một nơi không dùng hết sẽ đáp ứng nhu cầu ở những nơi khác.
5) Hoạt động đầu tư là yếu tố “viễn” trong sự thịnh vượng, là quá trình tìm kiếm giải đáp thỏa đáng cho câu hỏi “sản xuất cái gì và sản xuất làm sao?”. Xã hội phải sử dụng thặng dư kinh tế một cách hợp lý. Với nguồn thặng dư kinh tế, xã hội có thể rút bớt một phần nhân lực ra khỏi lực lượng lao động chính. Nơi nào dùng khối nhân lực đó để nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, phục vụ nhu cầu tưong lai, sẽ có nhiều cơ hội phồn thịnh. Ngược lại, nơi nào dùng nguồn nhân lực đó để bảo vệ quyền lợi của thiểu số người, sẽ không thể có cơ hội phát triển.
6) Đối tượng phục vụ là yếu tố “nhân” trong sự thịnh vượng, là kết quả của câu hỏi “sản xuất cho ai?”. Càng nhiều người được phục vụ nhu cầu sống, xã hội càng thêm thịnh vượng.
7) Tự do kinh tế là yếu tố quan trọng nhất, là yếu tố “cơ” của sự thịnh vượng. Mọi người phải có cùng cơ hội kinh tế, được tự do tìm kiếm hoặc cải tiến các nhu cầu sống được xã hội chấp nhận. Họ phải có quyền hưởng thụ hoặc được chia xẻ lợi nhuận kinh tế phù hợp với đóng góp của bản thân. Bốn nhân tố sau thuộc về môi trường, do cơ chế con người tạo thành.
Bảy điều kiện trên khi được phối hợp hài hòa là nền tảng của sự thịnh vượng tự chủ, kết quả phồn thịnh luôn được bền vững. Các hình thức kết hợp khác tạo nên nền thịnh vượng lệ thuộc, thịnh vượng phụ thuộc, thịnh vượng từ khai thác, hoặc thịnh vượng từ chiếm đoạt, chỉ mang lại kết quả phồn thịnh nhất thời.
Con đường vươn lên truyền thống của các con rồng kinh tế Á châu, để đạt đến nền thịnh vượng tự chủ, là thông qua quá trình phát triển từ thịnh vượng khai thác đến thịnh vượng lệ thuộc và tiến lên thịnh vượng phụ thuộc. Đây cũng là hướng mà chính quyền nước ta hiện nay đang muốn phấn đấu. Chương này sẽ khảo sát những nguyên tắc căn bản để xây dựng một nền kinh tế thịnh vượng tự chủ; sau đó sẽ dùng những luận cứ đó để phân tích thực trạng kinh tế nước ta và giới thiệu sơ lược vài định hướng giải quyết. Nguyên tắc chi tiết sẽ được khảo sát kỹ hơn trong những chương sau này.
I. Kinh tế thịnh vượng tự chủ:
Trong bất kỳ hoạt động kinh tế, “lợi nhuận tuyệt đối” là khả năng con người tạo nên “giá trị gia tăng” trong vật chất hoặc dịch vụ với độ tiện lợi, tiện nghi, hoặc tiện thích (hợp sở thích) càng cao, bằng mức hao tổn và độc hại càng thấp. “Lợi nhuận tương đối” là nhu cầu mà thị trường có cần đến hoặc quý trọng vật chất được làm ra hoặc dịch vụ đã thực hiện. Đó là “giá trị thặng dư” sau quá trình trao đổi; được xác định bằng trị giá tương đương của các sản phẩm hoặc dịch vụ đang có trong xã hội.
“Lợi nhuận tuyệt đối” trong hoạt động kinh tế không nhất thiết sẽ kéo theo “lợi nhuận tương đối”, và ngược lại. Trong điều kiện thực tế luôn bị hạn chế về tài nguyên và kiến thức, “lợi nhuận tương đối”, trên lý thuyết, là cách thức mà xã hội bình bầu và chọn lọc những thể loại sản phẩm có giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”, để đáp ứng cho các nhu cầu cần thiết nhất trong cuộc sống. Cách thức bình bầu và chọn lọc càng phản ảnh nhu cầu của đa số người, nền kinh tế sử dụng tài nguyên càng thêm hiệu quả với lợi ích càng cao; do đó xã hội sẽ ngày càng thêm thịnh vượng. Nếu kết quả chỉ phản ảnh nhu cầu của thiểu số người, nền kinh tế sẽ không cần sử dụng tài nguyên hiệu quả, bỏ qua giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”, chỉ cốt đạt được mức độ “lợi nhuận tương đối” cao nhất; hậu quả là xã hội ngày càng đánh mất đi tiềm năng thịnh vượng.
Nguyên nhân căn bản nhất dẫn đến sự thịnh vượng là: mọi người phục vụ nhu cầu lẫn nhau vì mục tiêu riêng, thông thường là mang lại lợi nhuận tối đa cho bản thân. Lợi nhuận càng trọng về tương đối, nền thịnh vượng càng có tính phụ thuộc; lợi nhuận càng thiên về tuyệt đối, nền thịnh vượng càng đạt được quyền tự chủ. Nền kinh tế thịnh vượng tự chủ là sự phối hợp hài hòa giữa bảy yếu tố sẽ khảo sát dưới đây, sao cho phù hợp với nguyên nhân thịnh vượng vừa được nêu trên.
1. Quyền tư hữu:
Quyền tư hữu là yếu tố “chủ” trong sự thịnh vượng. Đây là chủ lực cá nhân thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế trong xã hội để được sở hữu vật chất mà nhiều người khác cùng muốn sở hữu. Lòng ham muốn tư hữu là động lực thúc đẩy cá nhân phấn đấu để có được quyền tư hữu. Điều này theo triết lý Phật giáo là cội nguồn của mọi sự khổ đau. Tuy nhiên nếu triệt bỏ quyền tư hữu, hoặc triệt tiêu lòng ham muốn tư hữu trong phạm vi toàn xã hội, kết quả sẽ không làm vơi đi nỗi khổ đau, mà còn gia tăng sự túng quẫn do kinh tế bị trì trệ. Hiệu năng quản lý tài nguyên kinh tế của con người lệ thuộc vào quyền tư hữu. Nhu cầu mới và đa dạng trong cuộc sống con người phụ thuộc vào lòng ham muốn tư hữu. Phải có quyền tư hữu, con người mới hết lòng sử dụng tài sản sở hữu hiệu quả nhất, để mang lại mức độ lợi nhuận cao nhất. Phải có lòng ham muốn tư hữu, xã hội mới xuất hiện thêm nhiều nhu cầu ban đầu tưởng chừng vô bổ, nhưng lâu dần sẽ trở thành thiết yếu trong cuộc sống. Bởi vì lòng ham muốn tư hữu là bản tính tự nhiên của con người, quyền tư hữu không còn là quyền đặc nhiên của nhiều người.
Trái với những nguyên tắc sau đây sẽ làm cản trở tiến trình thịnh vượng của nền kinh tế. Các nguyên tắc căn bản về quyền tư hữu, giúp hình thành nền kinh tế thịnh vượng là
a) Công khai hóa quyền tư hữu.
b) Bảo vệ quyền tư hữu bằng pháp luật.
c) Bảo đảm quyền tư hữu một cách công bằng.
1a) Công khai hóa quyền tư hữu:
Quyền tư hữu phải được công khai và minh bạch, thì xã hội mới tránh khỏi xung đột do tranh chấp về quyền tư hữu. Người ta sẽ sử dụng tài năng và sức lực để đạt được quyền tư hữu bằng phương tiện kinh tế, thay vì dùng bạo lực. Quyền tư hữu được công nhận rộng rãi là hình thức để xã hội nhìn nhận nỗ lực đóng góp của cá nhân vào lợi ích chung. Phần lớn tài sản bất chính đều không được chấp nhận công khai, phải luôn che đậy dưới nhiều hình thức. Biện pháp hiệu quả nhất để hạn chế tình trạng này là mọi dạng tài sản trong xã hội cần có chủ sở hữu công khai, và quyền tư hữu phải được bảo vệ bằng pháp luật.
1b) Bảo vệ quyền tư hữu bằng pháp luật:
Quyền tư hữu không phải quyền tự nhiên của con người. Quyền tư hữu phải được bảo đảm bằng quyền lực của toàn xã hội, thay vì dựa vào sức mạnh của thiểu số đang cầm quyền. Đó là quyền lực của hệ thống pháp luật được xã hội thi hành và tuân thủ nghiêm ngặt. Hệ thống pháp lý càng công bằng và công minh, quyền tư hữu càng được bảo đảm, con người càng có lòng tin. Chính vì thiếu lòng tin vào hệ thống luật pháp, từ xưa đến nay phương tiện đáng tin cậy nhất để bảo vệ quyền tư hữu của con người là tích lũy vật chất quý hiếm, không bị phân hủy với thời gian như vàng, bạc. Đó là thước đo chính xác nhất về lòng tin của người dân vào pháp luật xã hội; liệu rằng luật pháp có bảo vệ được quyền tư hữu chính đáng của họ. Niềm tin vào pháp luật càng cao, người dân càng dùng trọn lợi nhuận vào các hoạt động kinh tế hữu ích như đầu tư để cải tiến phương tiện sản xuất, hoặc tiêu thụ để cải thiện nhu cầu sống. Không tìm được niềm tin vững chắc, họ sẽ đổi dạng tư hữu sang tích lũy quý kim, luôn có giá trị với thời gian, bất kể thay đổi của thời đại. Điều này càng làm gia tăng giá trị tương đối của quý kim và là một trong những yếu tố làm cản trở sự phồn thịnh của xã hội.
1c) Bảo đảm quyền tư hữu một cách công bằng:
Quyền tư hữu, trên lý thuyết là hình thức để xã hội ban thưởng nỗ lực đóng góp của cá nhân vào lợi ích chung. Tuy nhiên do bất công trong thực tế, quyền tư hữu thường là công cụ quyền lực để bành trướng quyền lợi cho cá nhân hoặc thiểu số người. Quyền lực kinh tế càng mạnh và tập trung vào số ít người, sở hữu phần lớn phương tiện sản xuất, sẽ buộc đa số người phải phục vụ quyền lợi cho thiểu số; kết quả là luôn đánh mất sự phồn thịnh trong xã hội. Giải pháp hay nhất không phải giới hạn quyền tư hữu, mà cần tuân theo nguyên tắc là: cá nhân, đoàn thể nào quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, tài sản hữu hạn với mức độ lợi nhuận cao nhất, xứng đáng được hưởng quyền tư hữu; và ngược lại. Đó là lẽ công bằng trong quyền tư hữu. Quyền lợi từ quyền tư hữu phải đi đôi với trách nhiệm. Được quyền tư hữu mà không mang lại lợi ích kinh tế tương đương, sẽ là gánh nặng tài chính cho người sở hữu. Ngoài ra, quyền tư hữu tài nguyên, tài sản không dẫn đến quyền tự do khai thác và thao túng. Nguyên tắc này sẽ được khảo sát kỹ hơn trong chương III (“Tự do và nguyên tắc tự do”). Quyền tư hữu càng được công bằng, xã hội càng tạo điều kiện tốt cho nhiều người phát huy triệt để tài năng. Kết quả là nền kinh tế càng thêm được thịnh vượng.
Quan hệ chính trị, bàn luận trong chương II (“Quan hệ người và tự do kinh tế”), đóng vai trò quyết định đến quyền tư hữu chính đáng của mọi người trong xã hội.
2. Nhu cầu thị trường:
Nhu cầu thị trường là yếu tố “nội” trong sự thịnh vượng, ảnh hưởng đến giải đáp cho câu hỏi “sản xuất cái gì?”. Đó là nội lực thúc đẩy, làm nâng cao mức tiện dụng và tiện nghi trong cuộc sống, luôn phát sinh thêm nhiều hoạt động kinh tế hữu ích. Yếu tố quan trọng nhất là mọi người phải đòi hỏi tiêu chuẩn sống tốt hơn và luôn tìm cách cải thiện nhu cầu sống cao hơn. Mọi tiêu chuẩn sống đều có nhiều cách thức cải thiện để trở nên tốt đẹp hơn, nhân bản hơn trong tương lai. Các tiêu chuẩn sống tưởng chừng như thuần túy lễ nghĩa, nếu được nhiều người đòi hỏi, sẽ trở thành nền tảng của xã hội văn minh. Tương tự, mọi nhu cầu sống hiện tại đều có nhiều phương thức cải tiến để trở nên tiện dụng hơn, tiện nghi hơn trong tương lai. Những nhu cầu ban đầu là xa xỉ, nếu có nhiều người ham muốn, sẽ dần trở thành thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Nâng cao tiêu chuẩn lễ nghĩa và gia tăng lòng ham muốn nhu cầu là một trong những nguyên nhân chính tạo nên sự thịnh vượng. “Lễ nghĩa sinh phú quý” chính là nguyên nhân; “phú quý sinh lễ nghĩa” chỉ là kết quả mặt nổi của sự thịnh vượng, mà xã hội ta đã nhìn nhận ra từ lâu.
Nhu cầu thị trường là đề tài được nhiều học thuyết kinh tế nghiên cứu cặn kẽ, với mục đích tìm ra chính sách chung trong xã hội để làm gia tăng nhu cầu của thị trường. Giải pháp thông dụng là gia tăng tối đa nguồn “lợi nhuận tương đối” cho người tiêu dùng với mức lạm phát tối thiểu. Giải pháp thích hợp cho hoàn cảnh nước ta sẽ được khảo sát chi tiết trong chương XIV (“Phương hướng đánh thức tiềm năng kinh tế Việt Nam”).
Bàn về nguyên tắc chung, nhu cầu của thị trường phụ thuộc vào những điều kiện “cần” và “đủ” sau đây:
- Điều kiện cần: yếu tố văn hóa, tôn giáo, và môi trường.
- Điều kiện đủ: yếu tố môi trường và con người.
2a) Yếu tố văn hóa:
Có quan điểm cho rằng lễ nghĩa tạo phiền toái, không cần thiết; hoặc lòng ham muốn gây nên tính hẹp hòi, ích kỷ. Đây là điều kiện về văn hóa ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đạt đến thịnh vượng kinh tế của một xã hội. Đơn cử trường hợp nước ta trước thời Pháp thuộc, nền văn hóa nho giáo đã dẫn đến thái độ bằng lòng với nhu cầu đang có, từ chối các nhu cầu mới, dù có giúp nâng cao điều kiện sống hàng ngày. Dân tộc nào lựa chọn cuộc sống đơn giản, không nề trang phục, trang sức, nguyên tắc lễ nghĩa, sẽ không có nhu cầu về thời trang, trưng diện, lễ lọc, không thể có cơ hội trở nên giàu có. Nếu họ không có lòng ham muốn, cải thiện, hoặc tạo nên nhu cầu mới trong cuộc sống, họ sẽ không biết lợi dụng lợi ích tối đa từ thiên nhiên. Đời sống họ luôn tùy thuộc vào điều kiện sẵn có trong tự nhiên. Nền văn hóa đó sẽ tạo nên xã hội phát triển theo chu kỳ, sự thịnh suy nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Ngược lại, nền văn hóa có tinh thần thách thức mọi ý tưởng đã được chấp nhận để cải hóa trí thức, tìm hiểu mọi cá tính của con người để cải thiện tiêu chuẩn sống, và tìm tòi mọi quy luật trong thiên nhiên để cải tiến nhu cầu sống, sẽ tạo nên xã hội phát triển theo chiều hướng tịnh tiến. Thành quả thịnh vượng của xã hội này, ngày càng nằm trong tầm hiểu biết và quyền kiểm soát của con người. Các biện pháp làm khai phóng yếu tố văn hóa sẽ được khảo sát trong chương II (“Quan hệ người và thịnh vượng kinh tế”).
2b) Yếu tố tôn giáo:
Yếu tố văn hóa dễ bị ảnh hưởng bằng cách tiếp xúc qua giao dịch hay thương mại. Giống trường hợp nước ta, có tiếp xúc với nền văn minh phương Tây, dân ta mới ý thức đến sự lạc hậu, kém cỏi của nước nhà và hun đúc ý chí muốn vươn lên. Nếu có xã hội nào đó do ảnh hưởng của tôn giáo, không muốn thay đổi nhu cầu sống, sẽ không thể đạt được thành quả thịnh vượng về kinh tế. Đó là sự lựa chọn của mỗi dân tộc.
2c) Yếu tố môi trường:
Yếu tố môi trường vừa là điều kiện cần và đủ để thúc đẩy nội lực trong nhu cầu thị trường. Điều kiện “cần” là khi môi trường đóng vai trò chủ động trong đời sống con người. Tài nguyên, khí hậu phải có ưu đãi tối thiểu, để duy trì các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống con người như ăn, ở, và sức khỏe. Con người có được mạnh khỏe, không phải chật vật với việc sinh nhai để sinh tồn, mới lo nghĩ được cách thức nâng cao độ tiện nghi, tiện lợi cho cuộc sống của mình. Điều kiện “đủ” là khi môi trường giữ vai trò thụ động trong quá trình tạo nên sự thịnh vượng. Tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng và dồi dào, luôn có khả năng cung cấp mọi nguyên vật liệu cần thiết, nếu con người biết cách khai thác và sử dụng một cách có trách nhiệm. Để đáp ứng cầu sống ngày một cao, con người phải tìm được nguồn nguyên liệu dồi dào, đủ sức thỏa mãn lòng ham muốn của đa số người trong xã hội. Nếu họ tìm được tài nguyên mới, phong phú hơn, dễ khai thác hơn, thay thế được nguyên liệu khan hiếm hiện đang sử dụng, khi đó họ đã biết lợi dụng yếu tố môi trường để phục vụ nhu cầu sống.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, nguồn gốc một nền thịnh vượng bền vững bao giờ cũng xuất phát từ những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, nhưng không thể đáp ứng bằng nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có. Xã hội thời nông nghiệp sung túc lương thực hơn so với thời nguyên thủy, do vì săn bắn, hái lượm dựa vào thiên nhiên không thể đáp ứng nổi nhu cầu lương thực của con người. Xã hội thành thị thời tiểu thủ công nghiệp sầm uất hơn xã hội nông thôn, bởi vì dân thành thị không có đất canh tác nên phải tạo ra sản phẩm thủ công, để đổi lấy nhu cầu lương thực. Xã hội công nghiệp giàu mạnh vượt bậc so với các thời đại trước, là do bị thiếu hụt nguyên vật liệu cần thiết trong nhiều ngành tiểu thủ công nghiệp. Các nước Âu Mỹ ngày nay thịnh vượng hơn ba mươi năm trước, là nhờ vào sự trợ giúp đắc lực từ ngành công nghệ thông tin, vốn khởi đầu để giải quyết nạn thiếu hụt nhân công làm những thao tác trùng lặp một cách máy móc. Hướng đến tương lai, xã hội thời chinh phục vũ trụ, công nghệ không gian chắn chắn sẽ đạt mức độ thịnh vượng không thể tưởng tượng nổi so với mọi thời đại xưa nay. Nguyên nhân chính sẽ là do viễn ảnh cạn kiệt của nhiều nguồn tài nguyên trên trái đất. Điều có vẻ nghịch lý là nơi nào càng được thiên nhiên ưu đãi, nơi đó càng khó có khả năng duy trì và khuyếch trương nền thịnh vượng. Các nước châu Âu và Nhật Bản đều là những quốc gia nghèo về tiềm năng nông nghiệp. Trước khi được phồn thịnh như ngày nay, họ luôn bị nạn đói đe dọa. Sự phát triển của ngành thương mại hàng hải của các nước châu Âu vào thế kỷ XV để đổi lấy hương liệu không phải cho nhu cầu xa xỉ, mà mục tiêu chính là vì sự sinh tồn. Mùa đông ở châu Âu không thể nuôi nổi toàn bộ đàn gia súc, buộc họ phải giết bớt, nên phải dùng hương liệu ướp thịt để tránh bị hư hỏng. Do đó, giàu có về tài nguyên thiên nhiên không quyết định đến khả năng thịnh vượng, mà chỉ là điều kiện khách quan ảnh hưởng đến tiến trình tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu cần thiết để phục vụ đời sống con người.
Trong các loại tài nguyên sử dụng, chỉ có năng lượng là bị mất đi vĩnh viễn; phần còn lại khoa học kỹ thuật đều có khả năng tái chế từ dạng này sang dạng khác, hoặc tìm được vật liệu khác thay thế. Nếu con người sử dụng nguồn năng lượng tái tạo như mặt trời, gió, nhiên liệu sinh học để dùng trong các ngành công, nông nghiệp, giá trị thịnh vượng sẽ được lâu bền hơn. Tiện nghi cho đời sống hôm nay sẽ không phải vay mượn từ môi trường sống ô nhiễm ở mai sau. Dựa vào nền tảng trí thức, con người sẽ tìm ra cách vận dụng và lợi dụng mọi quy luật trong thiên nhiên để phục vụ nhu cầu sống cho mình. Khí Hydro là một trong những nguyên tố dồi dào nhất trên trái đất và trong vũ trụ. Khi con người biết dùng sự kết hợp của khí Hydro trong phản ứng nhiệt hạch, để tạo năng lượng như trong lòng mặt trời, viễn ảnh năng lượng cạn kiệt không còn nữa vì theo ước tính khoa học, 1 km khối nước biển đủ cung cấp nhu cầu năng lượng hiện đang sử dụng cả năm trên toàn thế giới. Khi đó, yếu tố tài nguyên sẽ không còn giữ vai trò ảnh hưởng, làm giới hạn nhu cầu ham muốn của con người nữa.
Trí thức lao động (sẽ được bàn trong mục 3), là nhân tố làm thay đổi các điều kiện môi trường nhằm cải thiện tiêu chuẩn sống và cải tiến nhu cầu sống của con người.
2d) Yếu tố con người:
Con người nhân tố chủ đạo quyết định nên nhu cầu thị trường. Bản tính tự nhiên của con người là thích thụ hưởng và ham muốn nhu cầu mới. Đó là sức mạnh của nội lực thịnh vượng. Một lực dù có mạnh nếu không điểm tựa nâng đỡ, sẽ không thể hiện nổi tầm ảnh hưởng mong đợi. Lực ban đầu tuy yếu, khi có được điểm tựa vững chắc, sẽ dần trở nên mạnh mẽ, phát huy được tối đa tác dụng mong muốn. Điểm tựa của nội lực thịnh vượng là ở tính tự chủ khi đòi hỏi nhu cầu sống. Luôn đua đòi, chạy theo nhu cầu phô trương, bị thị hiếu của xã hội giàu chi phối, là tự đánh mất điểm tựa nội lực của mình. Học hỏi kinh nghiệm từ xã hội giàu để đáp ứng nhu cầu thiết thực, tự phát triển thị hiếu riêng, là từng bước xây dựng điểm tựa nội lực vững chắc cho chính mình.
Đối tượng phục vụ (mục 6) và tự do kinh tế (mục 7), là các nhân tố cơ chế ảnh hưởng đến yếu tố con người trong việc hình thành điểm tựa nội lực vững chắc cho sự thịnh vượng.
3. Trí thức lao động:
Trí thức lao động là yếu tố “thực” trong sự thịnh vượng, xác định giải đáp cho câu hỏi “sản xuất thế nào?”. Sự phồn thịnh của các nước giàu có, đã phát triển, đều gắn liền với mọi thành tựu làm nâng cao trình độ trí thức lao động trong nền kinh tế nước họ. Trí thức lao động quyết định đến sự thịnh vượng là do ở khả năng cung cấp, đáp ứng mọi nhu cầu về vật chất và dịch vụ trong xã hội bằng kết quả của “lợi nhuận tuyệt đối”; đó là làm gia tăng giá trị vật chất hoặc dịch vụ với độ tiện lợi, tiện dụng hoặc tiện thích càng cao, bằng mức hao tổn và độc hại càng thấp. Kết quả này được thể hiện qua những đẳng cấp sau:
3a) Đẳng cấp sơ khai:
Một người tự cung tự cấp, tự đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết cho bản thân và gia đình. Khả năng thịnh vượng hoàn toàn là số không vì sức người và thời gian đều có hạn. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là khả năng sống trong tự nhiên. Đời sống kinh tế chú trọng vào việc sinh tồn.
3b) Đẳng cấp nông nghiệp:
Một người trực tiếp cung cấp được nhu cầu lương thực cho vài chục người. Khả năng thịnh vượng bị hạn chế bởi ưu đãi về môi trường, khí hậu, và tài nguyên đất. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là học hỏi kinh nghiệm từ thiên nhiên. Đời sống kinh tế phấn đấu để bảo đảm an ninh lương thực.
3c) Đẳng cấp thủ công:
Một người trực tiếp cung cấp được nhu cầu tiêu dùng của số nhỏ người nhờ vào phương tiện sản xuất thủ công. “Lợi nhuận tuyệt đối” bị hạn chế bởi năng lực lao động thủ công; “lợi nhuận tương đối” bị lệ thuộc vào lòng ham muốn của thị trường tiêu thụ. Khả năng thịnh vượng chỉ giới hạn vào số nhỏ nghệ nhân, may mắn nắm bắt được thị hiếu của thị trường tiêu thụ giàu có. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là tìm cách tạo ra vật dụng tinh xảo, hữu ích. Đời sống kinh tế là ngoài mục tiêu an ninh lương thực, còn làm cho cuộc sống trở nên phong phú.
3d) Đẳng cấp công nghiệp:
Một người góp phần cung cấp nhu cầu tiêu dùng của hàng ngàn người bằng cách lợi dụng các quy luật trong tự nhiên để nâng cao năng suất sản xuất. Nhu cầu tiêu dùng được sản xuất hàng loạt, tạo nên nhiều của cải vật chất cho xã hội. Yêu cầu dịch vụ được đáp ứng nhanh chóng, làm nâng cao tiêu chuẩn sống trong xã hội. Năng suất làm việc cao, một phần nhờ vận dụng hiệu quả kiến thức khoa học kỹ thuật vào mọi qui trình sản xuất; phần khác do điều phối hợp lý kỹ năng nhân sự trong các tổ chức kinh tế. Khả năng đạt được thành quả thịnh vượng rất mạnh và bền vững, chỉ phụ thuộc vào các điều kiện “đủ” của yếu tố môi trường về tài nguyên năng lượng và nguyên liệu cần thiết. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là tìm cách cơ giới hóa để sản xuất hàng loạt. Đời sống kinh tế không còn lo về an ninh lương thực, mà tìm cách nâng cao độ tiện nghi và tiện lợi trong cuộc sống.
3e) Đẳng cấp trí thức:
Một người góp phần làm ra sản phẩm với số lượng và chất lượng vượt trội so với đẳng cấp công nghiệp. Năng suất làm việc gia tăng gấp bội nhờ vào mức độ tự động hóa cao trong các ngành sản suất. Khả năng thịnh vượng vượt bậc, chỉ còn phụ thuộc vào điều kiện “đủ” của môi trường về tài nguyên năng lượng và trình độ trí thức của lực lượng lao động. Trí thức lao động ở đẳng cấp này là tìm cách tự động hóa mọi qui trình sản xuất trong nền kinh tế. Đời sống kinh tế vừa chú trọng vào các dịch vụ cần thiết, vừa làm gia tăng tính nghệ thuật trong các sản phẩm tiêu dùng.
3f) Đẳng cấp hậu trí thức:
Con người luôn quyết định nguyên lý và cách thức tạo nên sản phẩm, dịch vụ để phục vụ đời sống cho họ. Đó là vai trò không thể thay thế được của con người trong nền kinh tế. Nền kinh tế càng cần ít công nhân, nhưng càng làm ra nhiều sản phẩm, về lâu về dài sẽ càng tạo thêm nhiều công ăn việc làm; chứ không bao giờ gây nên nạn thất nghiệp triền miên. Nền kinh tế đạt đến đẳng cấp hậu trí thức khi mọi qui trình sản xuất đều do máy móc điều khiển và làm ra. Thay vào sản phẩm được sản xuất hàng loạt là sản thuật được thiết kế và chế tạo tùy theo yêu cầu và nhu cầu của từng người tiêu dùng. Khi con người không cần phải lo toan về các vấn đề vật chất, dịch vụ sẽ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Vai trò của con người trong tương lai sẽ là những nhà kiến trúc, thiết kế, mỹ thuật, nhân văn, hoặc thám hiểm các hành tinh xa xôi. Khi con người tự tạo được nguồn năng lượng cần dùng, khi đó khả năng thịnh vượng sẽ là vô hạn, vì trí thức con người không bao giờ biết đến sự giới hạn. Trí thức lao động ở đẳng cấp này sẽ chuyên về tìm tòi sáng tạo sản thuật hoặc tìm cách chinh phục không gian. Đời sống kinh tế có thể sẽ không cần biết đến giá trị “lợi nhuận tương đối”, hoặc quy luật cung cầu đối với nhu yếu phẩm như hiện nay. Con người trong giai đoạn này, có lẽ chuyên xây dựng thuộc địa ở các hành tinh, hoặc thám hiểm vũ trụ để thỏa mãn các nhu cầu sống cao cấp trong xã hội.
Trí thức lao động là đề tài được nhiều học thuyết kinh tế khảo sát nhất. Mục tiêu nghiên cứu đa phần là tìm cách gia tăng mức “lợi nhuận tương đối” của các sản phẩm, từ giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đạt được do thành quả của khoa học kỹ thuật.
Giá trị lợi nhuận phụ thuộc vào năng suất sản xuất của công nhân. Những nguyên tắc đã được nghiên cứu để nâng cao năng suất lao động ở thời điểm hiện tại, về mặt tổ chức là:
a) Phân công lao động: mỗi người một phần của công việc sao cho đạt được sản lượng tối đa và chất lượng tối hảo.
b) Chuyên môn lao động: mỗi người hoặc đơn vị kinh tế chuyên môn một công việc sao cho toàn thể nền kinh tế sản xuất được nhiều sản phẩm nhất, với chất lượng tốt nhất.
c) Lợi thế cạnh tranh: mỗi người và đơn vị kinh tế chuyên vào sở trường của mình; sở đoản của mình sẽ là sở trường của người khác. Do đó họ phải xác định đúng sở trường và cạnh tranh dựa vào thế mạnh đó.
Giá trị “lợi nhuận tương đối” phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường. Do bị giới hạn về kiến thức và điều kiện “đủ” về tài nguyên, môi trường ở thời điểm hiện tại, các yếu tố ảnh hưởng đến trình độ trí thức lao động là:
a) Giá cả thời vận: do bị hạn chế về tài nguyên và thời gian, sự chọn lựa từ nhiều giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” để đeo đuổi vài nguồn “lợi nhuận tương đối” là giá phải trả về cơ hội thời vận. Đeo đuổi cơ hội này có thể khó khăn hơn, tuy được lợi về kiến thức, nhưng có thể sẽ không đạt được nguồn “lợi nhuận tương đối” so với cơ hội khác, ở tại thời điểm hiện tại.
b) Nguồn nhân công rẻ: nhân công rẻ vì giá trị lao động tạo nên lợi nhuận kém. Nếu giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” kém, đó là do trình độ trí thức lao động thấp. Khả năng nâng cao trí thức lao động phụ thuộc vào nhu cầu thị trường (mục 2), và cơ chế kinh tế (mục 7). Nếu giá trị “lợi nhuận tương đối” kém, đó là do các yếu tố về đối tượng phục vụ (mục 6) và cơ chế kinh tế (mục 7). Giữ giá nhân công rẻ là chính sách kìm hãm quá trình tiến triển của trí thức lao động.
c) Tài nguyên thiên nhiên dồi dào: con người sẽ chú trọng vào “lợi nhuận tuyệt đối” mà bỏ qua độ hao tổn hoặc độc hại đối với nguồn tài nguyên dồi dào. Giá trị thịnh vượng sẽ là sự vay mượn của nguy cơ cạn kiệt hoặc độc hại trong tương lai.
d) Cơ chế kinh tế: sẽ được bàn thảo trong mục 7, là yếu tố quan trọng nhất chi phối mọi yếu tố tạo nên sự thịnh vượng. Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành “thực lực” thịnh vượng.
Động lực làm nâng cao trình độ trí thức lao động là tính cầu tiến, và óc tò mò của con người. Để mang lại lợi ích thiết thực, họ phải tạo nên giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” từ khả năng sáng tạo, và từ đó tìm cách chuyển sang nguồn “lợi nhuận tương đối”. Trình độ trí thức lao động càng cao, giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” càng cao. Các yếu tố giúp nâng cao trình độ trí thức lao động là:
a) Nhu cầu về thị trường: đặc biệt là yếu tố văn hóa và môi trường, con người phải có lòng ham muốn nhu cầu mới, hoặc luôn tìm cách thách thức, xét lại mọi chân lý đã được công nhận. Nếu nguồn nguyên liệu cần dùng bị khan hiếm, đó là cơ hội để con người nâng cao trình độ trí thức lao động bằng cách tìm kiếm vật liệu tương đương thay thế.
b) Hoạt động đầu tư: nhờ có đầu tư mà con người mới khám phá được các giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” chưa hề được biết đến (mục 5).
c) Cơ chế kinh tế: kết quả khám phá giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” phải được tôn trọng, và những người có công phải được hưởng thành quả một cách xứng đáng (mục 7).
Trình độ trí thức lao động không thể tiến triển, nếu những người khám phá kiến thức cho trí thức lao động, không chuyển đổi được giá trị “lợi nhuật tuyệt đối” sang nguồn “lợi nhuận tương đối”. Các yếu tố làm chuyển đổi thành công là:
a) Cơ chế kinh tế: phải có sự cạnh tranh công bằng và minh bạch khi giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường tiêu thụ (mục 7).
b) Đối tượng phục vụ: nền kinh tế càng phục vụ thiểu số người, càng ít cơ hội giới thiệu sản phẩm mới; đặc biệt sản phẩm làm gia tăng độ tiện nghi và tiện dụng vì họ thường ít cần đến (mục 6).
c) Hoạt động đầu tư: có hoạt động đầu tư mới có được khả năng tài chính bảo trợ và giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường tiêu thụ (mục 5).
d) Phương tiện trao đổi: phương tiện trao đổi càng thuận tiện, khả năng giới thiệu sản phẩm mới để được người tiêu thụ chấp thuận càng được dễ dàng (mục 4).
4. Phương tiện trao đổi:
Là yếu tố “ngoại” trong sự thịnh vượng. Nhờ có phương tiện trao đổi mà con người mới chuyển đổi được giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” sang nguồn “lợi nhuận tương đối”, và biến “giá trị gia tăng” của vật chất được sản xuất thành “giá trị thặng dư” của sự thịnh vượng. Thị trường trao đổi càng lớn, càng thuận tiện, “giá trị gia tăng” do nơi này tạo nên càng dễ tìm được người tiêu dùng ở những nơi khác, làm sinh ra “giá trị thặng dư” khi mang ra trao đổi. Đây là yếu tố “ngoại” trong sự thịnh vượng vì trên lý thuyết, một nền kinh tế khi có điều kiện giao dịch, buôn bán dễ dàng với các nền kinh tế khác, sẽ tìm thấy nhiều cơ hội để chuyển đổi từ “giá trị gia tăng” nơi mình, sang “giá trị thặng dư” ở những nơi khác. Những yếu tố về phương tiện trao đổi đóng vai trò quan trọng đến sự thịnh vượng là:
a) Điều kiện trao đổi: phải có tính chất tự nguyện và công bằng.
b) Thông tin trao đổi: phải minh bạch và công khai.
c) Phương thức trao đổi: phải làm nhu cầu trao đổi được thêm dễ dàng.
d) Hệ thống trao đổi: phải tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho nhu cầu trao đổi.
e) Thủ tục trao đổi: phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của đôi bên.
4a) Điều kiện trao đổi:
Điều kiện quan trọng nhất là sự trao đổi phải có tính chất tự nguyện và công bằng. Mọi người chỉ trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ, để đổi lấy giá trị tương đương trong thị trường, khi kết quả phù hợp với quyền lợi chính đáng của họ. Không bàn đến chế độ chiếm hữu nô lệ, nền kinh tế với độc quyền thu mua tước mất quyền lợi chính đáng của người sản xuất, do đó họ sẽ không làm hết lòng. Nền kinh tế với độc quyền phân phối chiếm đoạt quyền lợi xứng đáng của người tiêu dùng, chạy theo “giá trị thặng dư” ở hiện tại, nhưng đánh mất “giá trị gia tăng” trong tương lai. Nếu mọi người bị buộc phải cung cấp hoặc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ mà không có quyền lựa chọn nào khác, với thời gian, nền kinh tế sẽ đánh mất đi sự thịnh vượng. Nguồn “lợi nhuận tương đối” của thành phần thu lợi từ độc quyền sẽ làm mất đi giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”. Nếu là nền kinh tế đóng, trình độ trí thức lao động sẽ không thể tiến triển được. Nếu là nền kinh tế chiếm giữ độc quyền để phục vụ nhu cầu của một nền kinh tế khác, sự thịnh vượng sẽ càng thêm bị lệ thuộc.
4b) Thông tin trao đổi:
Thông tin thị trường là đề tài được nhiều học thuyết kinh tế nghiên cứu công phu. Thông tin minh bạch và công khai là yếu tố quan trọng nhất để duy trì tính cạnh tranh và mãi lực của thị trường trao đổi. Thị trường trao đổi thường chạy theo nguồn “lợi nhuận tương đối”, nhưng giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” luôn giữ vai trò quan trọng trong các quyết định trao đổi. Thị trường trao đổi là hệ thống chọn lọc hiệu quả nhất để chuyển đổi từ giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” sang nguồn “lợi nhuận tương đối” với kết quả lợi nhuận chung cao nhất, khi thông tin trao đổi càng được rõ ràng và công khai.
4c) Phương thức trao đổi:
Phương thức trao đổi là căn bản của ngành tài chính với mục tiêu làm nhu cầu trao đổi được thêm dễ dàng. Khi người dân chưa tin vào hệ thống luật pháp để bảo vệ quyền tư hữu, quý kim hiếm như vàng, bạc là phương thức trao đổi được mọi người ưa chuộng. Tuy nhiên, nguồn quý kim chỉ có hạn, nhu cầu trao đổi giữa mọi người thì vô hạn. Nếu đôi bên trao đổi không thể tin tưởng nhau, chỉ dựa vào uy tín cá nhân hay quý kim làm tin, nhu cầu trao đổi sẽ bị giới hạn rất nhiều. Do đó hệ thống luật pháp càng minh bạch, đáng tin cậy, và bảo vệ được quyền lợi chính đáng của đôi bên khi giao dịch, ngành tài chính sẽ càng phát minh thêm nhiều phương tiện mới tạo mọi điều kiện dễ dàng cho sự trao đổi. Đây là yếu tố quan trọng nhất để mang lại sự thịnh vượng cho một nền kinh tế. Điều này tùy thuộc vào hệ thống pháp lý và cơ chế chính trị sẽ được bàn thảo trong chương II (“Quan hệ người và thịnh vượng kinh tế”).
4d) Hệ thống trao đổi:
Nhu cầu trao đổi, ngoài phương thức trao đổi, luôn bị hệ thống trao đổi làm giới hạn. Hệ thống trao đổi là phương tiện thông thương, chuyên chở sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng, và hình thức thanh toán là ở chiều ngược lại. Hệ thống trao đổi hàng hóa luôn gắn liền với các phương tiện vận tải hàng hóa. Khả năng vận chuyển hàng hóa càng nhanh chóng và hiệu quả, lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng càng nhiều. Hình thức thanh toán càng đáng tin cậy, dễ dàng, không phụ thuộc vào giới hạn của quý kim, lượng hàng hóa mang trao đổi càng thêm phong phú và đa dạng. Hệ thống trao đổi dịch vụ thì phức tạp hơn, thường gắn liền với các phương tiện thông tin liên lạc và phân tích dữ liệu. Hệ thống trao đổi dịch vụ cho các ngành sản xuất đóng nhiều vai trò quan trọng:
- Gián tiếp phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng đáp ứng được nhu cầu của họ. Chuyển đổi tối đa giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đang có, sang nguồn “lợi nhuận tương đối”.
- Giới thiệu và phát hiện những nhu cầu mới, tìm hiểu cách chuyển đổi giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đang biết sang nguồn “lợi nhuận tương đối”.
- Vận chuyển nguồn vốn từ “lợi nhuận tương đối” để đầu tư, nghiên cứu, tìm cách chuyển đổi càng nhiều giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” chưa biết, sang giàu có về nguồn “lợi nhuận tương đối” (mục 5).
- Giảm thiểu rủi ro trong quá trình trao đổi như bảo hiểm, hoặc cân bằng trong cung cầu cho các ngành sản xuất có liên hệ đối nghịch nhau (sẽ được khảo sát thêm trong chương IV trong mục về định chế tài chính).
4e) Thủ tục trao đổi:
Thủ tục trao đổi là hợp đồng cam kết giữa các thành phần trao đổi, phải bảo vệ được quyền lợi tối đa của đôi bên. Mọi tranh chấp khi trao đổi phải được giải quyết phù hợp với luật pháp quốc gia và hợp đồng cam kết. Thủ tục trao đổi càng nhanh gọn và hiệu quả, tiến trình trao đổi giữa những người không quen biết và tin cậy lẫn nhau càng dễ dàng và thuận tiện, phù hợp với nhu cầu của cả đôi bên theo tinh thần “thuận mua vừa bán”. Thông tin thị trường càng minh bạch và đáng tin cậy, con người càng dành ít thời gian và nỗ lực vào thủ tục trao đổi.
5. Hoạt động đầu tư:
Là yếu tố “viễn” trong sự thịnh vượng, là quá trình tìm kiếm giải đáp thỏa đáng cho câu hỏi “sản xuất cái gì và sản xuất làm sao?”. Hoạt động đầu tư quyết định đến trình độ phát triển của trí thức lao động. Sức tiến triển của trí thức lao động thông thường là quá trình khám phá từng bước, tiệm tiến, hiếm khi đạt được thành quả đột tiến. Con người có làm lụng, có tiêu thụ, mới biết được cách thức từng bước nâng cao năng suất lao động hoặc độ tiện nghi, tiện dụng, tiện thích của sản phẩm với mức hao tổn và độc hại thấp nhất. Con người có lòng yêu thích công việc mới đạt được thành quả tiệm tiến hoặc đột tiến trong trí thức lao động. “Lợi nhuận tương đối” là nguồn lực tài trợ cho các hoạt động đầu tư để đạt được mục đích đầu tư. Mục đích đầu tư là tìm cách gia tăng giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đã biết, hoặc cách thức tạo ra giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” chưa hề được biết đến. Bất kỳ nền kinh tế nào cũng đều đạt được “giá trị thặng dư” từ nguồn “lợi nhuận tương đối”. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn này là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến khả năng thịnh vượng trong tương lai.
Dùng “giá trị thặng dư” vào những hoạt động đầu tư với mục đích nâng cao trí thức lao động sẽ bảo đảm được khả năng thịnh vượng trong tương lai.
a) Cải thiện nhu cầu đã biết: tạo nên sự cộng hưởng trong trình độ trí thức lao động.
b) Cải tiến phương tiện sản xuất đã biết: tìm cách gia tăng giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”.
c) Tìm tòi nhu cầu chưa biết: tạo nên tính đột tiến trong nhu cầu tiêu dùng.
d) Phát minh phương tiện sản xuất chưa biết: tạo nên tính đột tiến trong trình độ trí thức lao động.
e) Đeo đuổi mục đích của nhân loại: tìm cách biến thành hiện thực ước vọng từ ngàn đời của nhân loại: xóa sạch khổ đau vì sự túng quẫn; bãi bỏ áp bức vì tính tham tàn; triệt tiêu bất công vì hiểu biết hạn hẹp. Về phương diện nhân đạo, tìm cách chữa trị những căn bệnh hiểm nghèo, bảo toàn phẩm giá con người trong trọn cuộc đời, và còn nhiều mục tiêu cao đẹp khác.
Dùng “giá trị thặng dư” vào các hoạt động để bảo toàn thành quả thịnh vượng của hiện tại, sẽ làm mất đi khả năng thịnh vượng trong tương lai:
f) Tích lũy “giá trị thặng dư”: để duy trình thành quả thịnh vượng.
g) Thao túng quyền lực chính trị: để bảo vệ thành quả thịnh vượng.
h) Kìm hãm tiến bộ trí thức lao động: để độc quyền thành quả thịnh vượng.
5a) Cải thiện nhu cầu đã biết:
Mọi nhu cầu đã biết đều có thể cải thiện để được tiện dụng hơn, tiện nghi hơn, hoặc đạt tiện thích hiện đại hơn. Đầu tư để tạo thêm “giá trị gia tăng” cho nhu cầu, sẽ nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hoặc dịch vụ, kết quả là thu thêm nhiều “giá trị thặng dư” khi trao đổi. Động lực mạnh nhất để đạt được mục tiêu này là thị trường trao đổi phải có nhu cầu ham thích, hoặc cần đến sự gia tăng trong giá trị để đổi lấy trị giá thặng dư tương xứng, mang lại lợi ích thiết thực cho những người đã bỏ công sức cải thiện. Yếu tố về nhu cầu đã bàn trong mục 2, và đối tượng phục vụ sẽ bàn trong mục 6, đóng vai trò quan trọng tạo nên động lực này. Sức tiến triển trong trí thức lao động là tiệm tiến, nhiều cải thiện nhỏ trong nhu cầu sống sẽ dẫn đến những khám phá mới, mang tính đột tiến, tạo nên sự cộng hưởng trong trình độ trí thức lao động.
5b) Cải tiến phương tiện sản xuất đã biết:
Mọi phương tiện qui trình sản xuất đang sử dụng đều có thể được cải tiến để sản xuất số lượng tối đa, chất lượng tối hảo trong cùng một mốc thời gian, với chi phí hao tổn và độc hạn tối thiểu. Đây là lĩnh vực được nhiều tập đoàn kinh tế lớn nghiên cứu chu đáo nhất. Cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ cần thiết, cải tiến phương tiện sản xuất sẽ tạo ưu thế cạnh tranh cho nhà cung cấp, gia tăng “giá trị thặng dư” từ sự tiến triển của “giá trị gia tăng”. Đây là quá trình nâng cao trình độ trí thức lao động để lợi dụng tối đa các điều kiện “đủ” về tài nguyên, môi trường. Sự khan hiếm nguyên liệu chủ lực luôn là động lực thôi thúc con người tìm kiếm vật liệu có tính năng ưu việt hơn, phong phú hơn để thay thế. Thắt chặt tiêu chuẩn về môi trường là động lực buộc họ phải giảm thiểu mức độ độc hại đến môi trường sống, bảo đảm giá trị thịnh vượng ngày nay không phải là sự vay mượn, phải trả bằng gánh nặng của môi trường trong mai sau.
5c) Tìm tòi nhu cầu chưa biết:
Nhiều nhu cầu rất thông dụng, không thể thiếu ngày nay, hoàn toàn không hiện hữu dù chỉ trước đây vài chục năm. Không ít nhu cầu lúc mới xuất hiện là biểu hiện xa xỉ, chỉ có người giàu mới kham nổi, lâu dần trở thành thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Đầu tư để tìm tòi nhu cầu chưa hề biết là phương thức hiệu quả nhất để nâng cao trình độ trí thức lao động. Có ba khả năng sử dụng “giá trị thặng dư” của nền kinh tế:
- Tiêu thụ vào các nhu cầu đã biết, gia tăng áp lực phần cầu, gây nguy cơ lạm phát.
- Tiêu dùng vào nhu cầu tích lũy quý kim, rút bớt phương tiện trao đổi, tạo nguy hại thiểu phát.
- Đầu tư để tìm kiếm những nhu cầu chưa hề biết đến, nâng cao trình độ trí thức lao động, tìm kiếm “giá trị gia tăng” cho tương lai, mang đến cơ hội thịnh phát.
Nền kinh tế tự do và được điều phối hiệu quả sẽ dùng nguồn vốn đó vào các hoạt động đầu tư. Thành quả khám phá mang tính chất đột tiến thường bắt nguồn từ sự tình cờ, không thể tiên liệu trước được. Do đó, phải có đầu tư rủi ro, tiêu pha “giá trị thặng dư” vào nhiều thí nghiệm thất bại, mới mong được thành công; nhưng quá trình này bao giờ cũng làm gia tăng trình độ trí thức lao động. Đó là giá trị luôn gặt hái được từ hoạt động đầu tư rủi ro. Vấn đề điều phối nền kinh tế để sử dụng hiệu quả “giá trị thặng dư” sẽ được khảo sát chi tiết trong chương XI (“Quan hệ vĩ mô giữa thặng dư, tiêu dùng, và đầu tư”).
5d) Phát minh phương tiện sản xuất chưa biết:
Trình độ trí thức lao động luôn gắn liền với khả năng chế tạo công cụ sản xuất. Chế tạo công cụ sản xuất chưa hề được biết đến để giải quyết các vấn đề hiện tại, sẽ mở rộng cửa kiến thức, giúp cải tiến công cụ sản xuất đang sử dụng và phát sinh công nghệ hoàn toàn mới. Nhiều ngành công nghiệp, điển hình gần đây là công nghệ thông tin, đã được khởi đầu bằng những động lực như trên. Nếu không bị áp lực cạnh tranh (mục 7), những nhà sản xuất sẽ không chịu đầu tư để nâng cao giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”. Nếu không có nhu cầu thị trường (mục 2), hoặc thị trường trao đổi hạn hẹp (mục 4), nhà sản xuất sẽ không có động lực để đầu tư vào những công cụ chưa hề hiện hữu và được biết đến. Kết quả đầu tư khi thành công, thường tạo nên tính đột tiến trong trình độ trí thức lao động.
5e) Đeo đuổi mục đích của nhân loại:
Ngày nay, đầu tư để chữa trị những căn bệnh hiểm nghèo không vì mục đích “lợi nhuận tương đối” là mục tiêu cao cả. Nếu nền kinh tế có khả năng dùng “giá trị thặng dư” của mình vào mục tiêu này, sẽ khám phá ra được cách thức chữa trị những căn bệnh nguy hiểm khác với “giá trị thặng dư” cao, nhờ vào những tiến bộ trong trình độ trí thức.
Tìm cách biến thành hiện thực ước vọng từ ngàn đời của nhân loại: xóa sạch khổ đau vì sự túng quẫn; bãi bỏ áp bức vì tính tham tàn; triệt tiêu bất công vì hiểu biết hạn hẹp. Đây là mục đích cao đẹp của một nền kinh tế đạt đến thành quả thịnh vượng tự chủ cao. Thực hiện mục tiêu này không thể thu được kết quả thỏa đáng bằng cách chia xẻ phần thịnh vượng đến với người khốn khó, đóng vai trò hiệp sĩ bảo vệ kẻ đang bị áp bức, hoặc giảng dạy tính công bằng từ khuôn mẩu đạo đức riêng. Tất cả những vấn đề trên đều có thể được giải quyết triệt để nếu con người làm chủ được nguồn năng lượng, tự tạo năng lượng dồi dào từ nguyên liệu phong phú trong vũ trụ, với độ độc hại tối thiểu cho môi trường sống. Tự do về năng lượng sẽ đưa nền kinh tế lên đẳng cấp hậu trí thức. Khi đó, nền kinh tế sẽ bảo đảm được nhu cầu vật chất cho toàn thể nhân loại, giáo dục miễn phí giúp nâng cao trình độ trí thức của mọi người, để cùng tham gia vào kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người: kỷ nguyên của thanh bình và bác ái trong quan hệ người, cũng như của hợp tác và hợp nhất để chinh phục những hành tinh xa xôi.
Nền kinh tế nào sử dụng “giá trị thặng dư” vào các hoạt động sau đây sẽ đánh mất khả năng thịnh vượng trong tương lai:
5f) Tích lũy “giá trị thặng dư”:
Đây là hình thức thông dụng nhất từ xưa đến nay để duy trình thành quả thịnh vượng. Nếu con người không có lòng tin vào cơ chế kinh tế hiện tại, hoặc được bảo vệ quyền tư hữu chính đáng, họ sẽ tích lũy “giá trị thặng dư” vào quý kim thường dùng trong phương tiện trao đổi. Càng nhiều người đeo đuổi mục tiêu này, nền kinh tế càng mất đi phương tiện thanh toán, càng tiêu dùng tài nguyên quý giá vào việc khai thác quý kim, không thể chú trọng vào việc nâng cao “giá trị gia tăng”. Đầu tư “giá trị thặng dư” vào các nguồn tài nguyên hữu hạn như đất đai với mục đích tích lũy, đầu cơ, thay vì để sinh ra “giá trị gia tăng”, sẽ làm người đầu tư giàu hơn về nguồn “lợi nhuận tương đối”, nhưng làm bản thân họ và toàn xã hội càng bị nghèo thêm về giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”.
5g) Thao túng quyền lực chính trị:
Đây là biện pháp thông thường của những người đã thành công và thành đạt, muốn bảo vệ thành quả thịnh vượng bằng cách áp chế quyền lực thay vì chấp nhận cạnh tranh kinh tế. Thay vì đầu tư “giá trị thặng dư” để tìm cách nâng cao “giá trị gia tăng”, họ lại đổi lấy quyền lực chính trị, để bảo toàn “giá trị thặng dư” đó. Trong xã hội không có tự do kinh tế, tranh thủ hoặc thao túng quyền lực chính trị là bản tính tự nhiên của con người, bởi vì những lợi thế sau đây:
- Ngăn cấm đối thủ cạnh tranh luôn hiệu quả và dễ thực hiện hơn là tìm cách nâng cao “giá trị gia tăng”.
- Áp đặt lên yêu cầu thị trường luôn mang lại kết quả mong muốn hơn là bỏ công tìm hiểu vào nhu cầu tiêu thụ.
- Kiểm soát thị trường trao đổi luôn mang lại nguồn “lợi nhuận tương đối” cao hơn là tham gia vào thị trường tự do.
- Chiếm đoạt quyền sở hữu luôn mang lại sự giàu có nhanh hơn bất kỳ thành quả lao động nào.
- Kìm hãm trình độ trí thức lao động luôn bảo đảm địa vị giàu sang trong xã hội, không sợ bị tiến bộ của trí thức con người đào thải.
Xã hội nào cho phép dùng quyền lực chính trị để bảo toàn “giá trị thặng dư” ở hiện tại, sẽ làm triệt tiêu tiến trình làm nâng cao “giá trị gia tăng” và đánh mất khả năng thịnh vượng trong tương lai.
5h) Kìm hãm tiến bộ trí thức lao động:
Trong nền kinh tế được cạnh tranh tự do, đây là biện pháp thường dùng của các tập đoàn lớn, hoặc cá nhân đã thành đạt để bảo vệ độc quyền thành quả thịnh vượng. Những ý tưởng hay, kỹ thuật mới nếu được áp dụng sẽ thay thế toàn bộ sản phẩm hoặc dịch vụ họ đang cung cấp. “Phá hủy do sáng tạo” là quá trình trong đó những gì con người đang sử dụng hoặc đã bỏ công xây dựng, sẽ bị thay thế hoàn toàn bằng các loại sản phẩm hoặc dịch vụ tương đương, có giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” vượt bậc, phục vụ được càng nhiều người, nhưng sẽ xóa bỏ đặc quyền kinh tế của thiểu số người. Nếu thiểu số người đó, đang nắm giữ quyền lực kinh tế, ý thức được kỹ thuật hoặc ý tưởng mới, họ sẽ có nhiều cách ngăn chặn quá trình này, kìm hãm đà tiến bộ của trí thức lao động. Đây là vấn đề của mọi xã hội, bất kể thể chế chính trị hoặc trình độ phát triển kinh tế. Xã hội nào có ý chí chấp nhận quá trình phá hủy do sáng tạo, ngăn ngừa hữu hiệu vấn đề trên, sẽ thu hút và đào tạo được nhiều nhân tài, bảo đảm được thành quả thịnh vượng trong tương lai. Xã hội nào chuyên tiếc nuối thành quả vừa đạt được, bảo vệ đặc quyền kinh tế của thiểu số người, sẽ đánh mất cơ hội trở nên thịnh vượng. Vấn đề này sẽ được khảo sát thêm trong chương IX (“Quan hệ vĩ mô giữa thặng dư, tiêu dùng, và đầu tư”).
6. Đối tượng phục vụ:
Đối tượng phục vụ là yếu tố “nhân” trong sự thịnh vượng, là kết quả của câu hỏi “sản xuất cho ai”. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến khả năng đạt được thành quả thịnh vượng. Với sự hạn chế về tài nguyên và phân hóa trong quyền tư hữu lẫn trí thức lao động, đối tượng được ưu tiên phục vụ thông thường là những người giàu có hoặc đạt năng suất lao động cao. Một người chỉ làm chừng đó giá trị sản phẩm không thể nhận hơn số lượng tương đương từ xã hội. Quan điểm cực đoan cổ điển tiêu biểu về giới hạn của tài nguyên là từ nhà kinh tế học người Anh, ông Thomas Robert Malthus. Ông Malthus cho rằng tài nguyên gia tăng theo cấp số cộng trong khi đó dân số lại tăng trưởng theo cấp số nhân. Sự thiếu hụt về lương thực và gia tăng bệnh tật là điều tất yếu; hoặc chiến tranh là hệ quả thiết yếu, để cân bằng dân số với tài nguyên. Xã hội không thể nào đáp ứng được hết nhu cầu của tất cả mọi người.
Lịch sử đã chứng minh rằng giới hạn của sự thịnh vượng là do trình độ trí thức lao động, chứ không phải bị hạn chế bởi tài nguyên thiên nhiên. Nhân loại đã may mắn sở hữu hành tinh giàu có và đa dạng về tài nguyên nếu họ biết cách sử dụng và hiểu rõ trách nhiệm của mình. Thành quả cuộc cách mạng xanh nhờ vào những tiến bộ của khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắt đầu vào những năm 1950, đã xóa tan nguy cơ thiếu hụt lương thực trên toàn cầu. Ngày nay nếu cần thiết, một nước Mỹ có thể cung cấp nhu cầu lương thực cho toàn thể dân số thế giới. Giới hạn về tài nguyên hoặc vốn tư bản không phải là nguyên nhân để các xã hội nghèo không thể đáp ứng nổi nhu cầu sống cho tất cả mọi người.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự túng thiếu và vòng lẩn quẩn nghèo khó là do tầm nhận thức của con người. Bất công về cơ hội kinh tế luôn kéo theo nỗi thống khổ của đa số và khơi sâu hố giàu nghèo trong xã hội. Cơ hội kinh tế bất công là khi xã hội còn tồn tại điều nghịch lý sau: có nhiều người muốn làm việc, cần nhu cầu sống đa dạng, mang tinh thần ham cầu tiến, có năng lực việc làm đầy đủ, sẽ đạt trình độ trí thức cao, nhưng không được có cơ hội vươn lên. Vấn đề quan trọng cần giải quyết là ai sẽ tạo cơ hội kinh tế công bằng cho họ vươn lên? Điều này tuỳ thuộc vào tầm nhận thức của con người, luôn phản ảnh qua thực tế xã hội như sau:
a) Đa số phục vụ thiểu số: nền kinh tế với thành quả thịnh vượng bị lệ thuộc hoặc phụ thuộc; luôn tự bó buộc vào sự hạn chế của tài nguyên và vốn tư bản.
b) Thiểu số bố thí đa số: nền kinh tế theo quan niệm rằng chính quyền là công cụ để giải quyết mọi bất cập trong phân hóa giàu nghèo. Nếu quan niệm chính quyền là công cụ duy nhất, thực chất của giải pháp là tương đương với sự bố thí.
c) Đa số phục vụ đa số: đây là nền tảng của kinh tế thịnh vượng tự chủ. Xã hội nghèo nào nhận thức được điều này, kết hợp với quyền tự do kinh tế (mục 7), sẽ phát sinh thêm nhiều cơ hội kinh tế công bằng cho mọi người. Với thời gian, xã hội sẽ trở nên thịnh vượng, và đạt được quyền tự chủ trong nền kinh tế.
6a) Đa số phục vụ thiểu số:
Đây là hình thức phổ biến nhất xưa nay trong xã hội loài người. Lòng ham muốn của con người thường vượt quá khả năng tài nguyên, môi trường cung cấp được, nên đa số người bị buộc phải phục vụ tiện nghi sống của thiểu số đang nắm giữ quyền lực kinh tế, để đổi lấy nhu cầu sống tối thiểu. Như đã đề cập ở trên (mục 5g), thao túng quyền lực chính trị là phương tiện dễ dàng nhất, hiệu quả nhất cho kẻ mạnh duy trì và mở rộng quyền lực kinh tế.
Trong xã hội không có tự do kinh tế, thành phần đa số rất khó có cơ hội vươn lên, vì theo quy luật bù trừ, đó sẽ là hiểm họa đối với đặc quyền và đặc lợi của thành phần thiểu số. Trong nền kinh tế này, sự thịnh vượng thường là kết quả bù trừ vì nguồn tài nguyên chỉ có hạn. Do đó, muốn duy trì thành quả thịnh vượng, thiểu số quyền lực phải nắm giữ độc quyền phân phối lợi nhuận. Họ chiếm hữu phần lớn “giá trị gia tăng”, trả công lao động cho đại đa số bằng phần nhỏ của “giá trị thặng dư”. Điều này cũng giống như nhận xét của Karl Marx, cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản, nguồn lợi nhuận đó là sự chiếm đoạt từ thành quả lao động của đại đa số. Kết quả thịnh vượng luôn mang tính lệ thuộc và không thể đạt được giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cao vì những nguyên nhân sau:
- Yếu tố “chủ”: thiểu số giàu ít có nhu cầu gia tăng của cải tư hữu, chỉ chú trọng đến việc bảo tồn tài sản đang sở hữu. Họ không bị áp lực phải sử dụng nguồn tài nguyên hữu hạn để mang lại giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cao nhất.
- Yếu tố “nội”: họ ít cần và thường không thiết đến những nhu cầu mới về vật chất làm gia tăng mức độ tiện lợi, tiện nghi để phục vụ thị trường nội địa. Hưởng thụ những nhu cầu đó bằng hình thức phục dịch, đối với tâm lý con người, luôn hơn hẳn mọi tính ưu việt của sản phẩm vật chất. Đối với nền kinh tế có độ lệ thuộc cao, nhu cầu tiêu thụ của họ luôn theo sau nhu cầu tiêu dùng xa xỉ của những xã hội giàu mà nền kinh tế họ đang lệ thuộc vào. Để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ, cách dễ làm nhất là giữ thấp giá nhân công nội địa để làm gia tăng “giá trị thặng dư” khi giao dịch xuất khẩu, đánh mất điểm tựa cho nội lực thịnh vượng.
- Yếu tố “ngoại”: đối với nền kinh tế lệ thuộc, xuất nhập khẩu là dùng tài nguyên và nhân lực nội địa để đổi lấy: nhu cầu sống thiết yếu, nhu cầu tiêu thụ xa xỉ, và nhu cầu tích lũy làm giàu. Trong nền kinh tế nội địa, điều kiện trao đổi bị kiểm soát, thông tin trao đổi bị thao túng, phương thức trao đổi không tin cậy, hệ thống trao đổi yếu kém, và thủ tục trao đổi rườm rà. Những điều này không phải là sự yếu kém, mà là sức mạnh bảo vệ đắc lực đặc quyền và đặc lợi kinh tế của giai cấp họ.
- Yếu tố “viễn”: với quyền thao túng tài nguyên kinh tế, họ sẽ không đầu tư phát triển sản phẩm họ không hề thiết đến; mà chỉ chú trọng vào nhu cầu phục dịch thay cho dịch vụ. Phần lớn “giá trị thặng dư” khi đầu tư đều dùng để gia tăng quyền lực chính trị, nhằm bảo vệ địa vị xã hội và thành quả thịnh vượng cho giai cấp họ.
- Yếu tố “thực”: trình độ trí thức lao động nếu thiếu vắng “chủ lực”, “nội lực”, “ngoại lực” và “viễn lực”, sẽ không có động lực tiến triển và điều kiện tiến bộ. Đây là vòng lẩn quẩn của sự nghèo khó: trí thức lao động kém, không thể dùng tài nguyên để đáp ứng được lòng ham muốn, đa số phải phục vụ tiện nghi sống của thiểu số để đổi lấy nhu cầu sống căn bản.
- Yếu tố “an”: là hệ quả do mâu thuẫn giữa người vì bất công trong cơ hội sống, nhưng không có lối thoát bằng phương tiện kinh tế. Xã hội bao gồm đa số người chỉ làm lụng để sinh tồn hoặc phải làm việc bất chính. Trong số đó, nếu không phải lo cho nhu cầu thiết yếu, tương lai gia đình, là sống vô định để hưởng thụ nhanh chóng. Chỉ có số ít là luôn tìm cách giải quyết mâu thuẫn xã hội. Với thời gian, đa số mọi người sẽ nhận thức rằng, mục đích sống không thể mãi vì sự sinh tồn hoặc để làm con thiêu thân. Đây là mâu thuẫn luôn bị dồn nén, sớm muộn sẽ phải được giải quyết bằng nhiều hình thức khác nhau.
Trong xã hội có được tự do kinh tế (mục 7), cơ hội vươn lên của thành phần đa số thường không phải là nhờ phục vụ tiện nghi sống của thiểu số giàu có, mà do đáp ứng nhu cầu sống lẫn nhau theo quy luật cộng hưởng, sẽ bàn trong mục dưới đây (mục 6c).
6b) Thiểu số bố thí đa số:
Đối với thực tế nước ta, đây là mục tiêu của “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Sở dĩ có khái niệm này là thiểu số nắm giữ quyền lực kinh tế nhận thức được rằng, tương lai thịnh vượng của họ tùy thuộc vào cách giải quyết mâu thuẫn trong yếu tố “an”. Định hướng xã hội chủ nghĩa giải quyết mâu thuẫn bằng phương tiện chính quyền, để thiểu số quyền lực tự áp đặt trách nhiệm xã hội lên giai cấp họ và buộc thành phần đang thành đạt phải chia xẻ sự thịnh vượng. Thay vì tự do hóa nền kinh tế, họ lại nắm trọn quyền kiểm soát, nhưng lại tự giác thực hiện nghĩa vụ đối với xã hội. Thực chất điều này là tương đương với sự bố thí.
6c) Đa số phục vụ đa số:
Đây là hệ quả tất yếu của xã hội có được tự do kinh tế (mục 7). Nền kinh tế tự do khi mọi người được tự do và bình đẳng trong việc tìm kiếm cơ hội kinh tế, phục vụ nhu cầu cần thiết của xã hội trong khuôn khổ luật pháp. Nhu cầu sống của họ không còn bị giới hạn bởi hạn chế về tài nguyên hoặc ưu đãi của môi trường. Cơ hội kinh tế thường hiếm hoi, nếu tìm cách duy trì hoặc gia tăng phần phân chia hữu hạn từ nguồn tài nguyên đang khai thác vì bị quy luật bù trừ chi phối. Cơ hội làm giàu luôn nhiều hơn và đa dạng hơn, nếu bỏ công tìm kiếm nhu cầu mới, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú với giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” càng cao, để đạt được nguồn “lợi nhuận tương đối” tối đa. Sự thịnh vượng luôn là kết quả cộng hưởng, tùy thuộc vào trình độ trí thức lao động của con người. Trong nền kinh tế này, cơ hội kinh tế luôn nằm ở đa số, mặc dù ban đầu họ chưa đạt được mãi lực thị trường. Bù lại, họ có những lợi thế sau:
- Yếu tố “chủ”: họ có lòng ham muốn sở hữu của cải vật chất, tư hữu tài sản, tài nguyên, công cụ sản xuất. Họ là số đông trong xã hội, sự thành công của họ sẽ làm gia tăng “chủ lực” của mọi hoạt động kinh tế.
- Yếu tố “nội”: họ có nhiều nhu cầu về sản phẩm làm nâng cao độ tiện lợi, tiện dụng, và tiện nghi trong cuộc sống. Nhu cầu cho bản thân họ cũng là nhu cầu của nhiều người, và ngược lại. Giới thiệu sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu riêng sẽ tìm được thị trường tiêu thụ chung. Chìa khóa thịnh vượng là tìm cách nâng cao giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” của sản phẩm với số lượng lớn, hoặc dịch vụ trên mật độ rộng. Nguồn “lợi nhuận tương đối” từ thị trường này luôn gắn liền với giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” của sản phẩm, hoặc dịch vụ được làm ra. Thu nhập của mọi người tùy thuộc vào giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” từ sản phẩm hoặc dịch vụ do họ góp phần lao động khi mang trao đổi. Đây là điểm tựa vững chắc nhất của nội lực thịnh vượng. Mãi lực trong thị trường xuất nhập khẩu của họ sẽ gia tăng với đà tiến bộ trong trình độ trí thức lao động.
- Yếu tố “ngoại”: đối với nền kinh tế đang bị lệ thuộc, xuất nhập khẩu là dùng tài nguyên và nhân lực nội địa để đổi lấy: nhu cầu sống thiết yếu, nhu cầu nâng cao trí thức lao động, và giới thiệu nhu cầu mới cho thị trường xuất khẩu. Phục vụ thị trường nội địa luôn mang lại lợi ích kinh tế cao hơn là phục vụ thị trường xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu là phương tiện trao đổi để nâng cao trình độ trí thức lao động. Trong nền kinh tế nội địa, điều kiện trao đổi được tự do, thông tin trao đổi phải minh bạch, phương thức trao đổi phải đáng tin cậy, hệ thống trao đổi phải hiệu quả, và thủ tục trao đổi phải đơn giản. Thực hiện những yêu cầu này sẽ phát sinh thêm nhiều cơ hội kinh tế cho toàn xã hội.
- Yếu tố “thực”: mọi người tự nguyện nâng cao trình độ trí thức lao động bằng cách học hỏi kiến thức thiết thực nhất, thực tế nhất, để mang lại lợi ích cao nhất. Kiến thức trở thành công cụ tư duy cho con người thay vì chỉ đơn thuần là giá trị trang sức cho địa vị xã hội. Sự thịnh vượng khi có đầy đủ “chủ lực”, “nội lực”, “ngoại lực”, “nhân lực” và được “cơ lực” (mục 7) điều hợp nhịp nhàng, sẽ sinh được nguồn “thực lực” mạnh mẽ tương đương. Với thời gian, trình độ trí thức của con người sẽ càng gia tăng, nền kinh tế càng thêm được tự chủ.
- Yếu tố “viễn”: muốn bảo vệ thành quả thịnh vượng và tìm kiếm nhu cầu làm giàu, họ sẽ sử dụng hợp lý “giá trị thặng dư” ở hiện tại để đầu tư vào “giá trị gia tăng” trong tương lai. Nền kinh tế khi có được “chủ lực” mạnh; tạo điểm tựa “nội lực” vững chắc; vận dụng “ngoại lực” hợp lý; tập hợp “nhân lực” dồi dào; được “cơ lực” điều hợp nhịp nhàng; tổng hợp nên “thực lực” mạnh ở hiện tại, sẽ tìm được nhiều cách để phát huy thêm “viễn lực” trong tương lại. “Viễn lực” sẽ là “thực lực” của thịnh vượng trong mai sau.
- Yếu tố “an”: mâu thuẫn trong xã hội do phân hóa giàu nghèo luôn có cách giải quyết thỏa đáng bằng cạnh tranh kinh tế. Vấn đề này sẽ được bàn thảo trong chương II (“Quan hệ người và thịnh vượng kinh tế”). Kết quả của sự cạnh tranh luôn nâng cao giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cho nền kinh tế. Đa số mọi người sống đều có mục đích nhất định, vững lòng tin ở tương lai, và chủ động được vận mệnh của bản thân.
7. Tự do kinh tế:
Tự do kinh tế là cơ chế điều hợp guồng máy kinh tế. Lòng ham muốn sở hữu là nguồn năng lượng làm vận hành guồng máy này. Cơ chế vận hành càng nhịp nhàng, các bộ phận cấu thành càng được thêm tôi luyện với thời gian. Ngược lại nếu mỗi bộ phận đều hoàn hảo, nhưng cơ chế ráp nối, điều hợp không được hoàn thiện hoặc bị vướng nhiều khúc mắc, guồng máy ấy sẽ không hoạt động hết khả năng, thậm chí không thể vận hành nổi. Tự do kinh tế là sự kết hợp hài hòa giữa các bộ phận trong guồng máy kinh tế, là cơ chế quyết định đến khả năng tự chủ của nền kinh tế. Đó là “cơ lực” điều phối nhịp nhàng “chủ lực”, “nội lực”, “ngoại lực”, và “nhân lực” để tổng hợp nên “thực lực” mạnh mẽ và hiệu quả ở hiện tại; đồng thời nghiên cứu và xây dựng nên “viễn lực” cường thịnh trong tương lại. Tự do kinh tế là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền kinh tế thịnh vượng tự chủ. Tự do kinh tế là mơ ước của những người chưa đạt thành quả; là lý tưởng của những người đang thành công; là nỗ lực phấn đấu của những người đang thành đạt; nhưng lại là ác mộng đối với những người đã thành công và thành đạt, không còn sức cạnh tranh. Tự do kinh tế không phải tự nhiên mà có, mà phải do ý chí của mọi người tạo thành. Tự do kinh tế là những quyền như sau:
a) Quyền được tư hữu và sử dụng tư hữu: bảo vệ “chủ lực”, nguồn năng lượng của sự thịnh vượng.
b) Quyền được tìm kiếm và hưởng thụ nhu cầu sống: gia tăng “nội lực” của sự thịnh vượng.
c) Quyền tự do trao đổi: thu hút và tổng hợp “ngoại lực” của sự thịnh vượng.
d) Quyền tự do cạnh tranh: tạo điểm tựa cho “nội lực”, thu hút số đông “nhân lực”, phát sinh ra “thực lực” mạnh cho sự thịnh vượng.
e) Quyền được hưởng quyền lợi từ thành quả lao động: chuyển được mọi nguồn lực thịnh vượng để cải thiện tiêu chuẩn sống, cải tiến nhu cầu sống, sẽ càng thu hút số đông “nhân lực” tham gia hiệp lực để tạo nên sự thịnh vượng.
f) Quyền được bảo vệ quyền lợi chính đáng: bảo vệ thành quả hiện tại của “thực lực”, đặt nền tảng để phát triển nên “viễn lực” cho tương lai.
g) Quyền tranh đấu để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng: thành quả thịnh vượng của mọi người phải thuộc quyền chủ động của họ, không cần nhờ cậy vào sự ban phát, lệ thuộc vào sự dẫn dắt, và phụ thuộc vào sự sáng suốt của thiểu số người.
Những quyền tự do kinh tế trên sẽ được khảo sát thêm chi tiết trong chương III (“Tự do và các nguyên tắc tự do”).
Kinh tế là hoạt động trong đó con người dùng trí thức lao động để phục vụ nhu cầu sống. Trên lý thuyết, thành quả thịnh vượng, địa vị xã hội là cách thức để xã hội chấp nhận giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” do cá nhân góp phần tạo nên trong nền kinh tế. Bởi con người không thể đo lường chính xác được giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”, nên thị trường trao đổi là công cụ công bằng nhất để giúp họ lượng định giá trị tương xứng bằng nguồn “lợi nhuận tương đối”. Trong điều kiện thực tế lý tưởng, thành quả thịnh vượng, địa vị xã hội là cách thức để xã hội công nhận “giá trị gia tăng” từ hiệu quả đóng góp của cá nhân cho nền kinh tế. Do điều kiện sống không bao giờ lý tưởng, nên quá trình cạnh tranh là hình thức hiệu lực nhất để xã hội quyết định mức độ đóng góp hiệu quả thông qua “giá trị thặng dư” trong thị trường trao đổi.
Thị trường cạnh tranh phản ảnh quá trình tranh giành về thành quả thịnh vượng và địa vị xã hội của mọi người tham gia. Đó là quá trình đuổi bắt của quy luật bù trừ với lợi ích cộng hưởng. Khi bị quy luật bù trừ chi phối, mọi người sẽ tạo cơ hội kinh tế bằng cách tìm kiếm lợi ích cộng hưởng. Khi lợi ích cộng hưởng bị quy luật bù trừ chi phối, chu kỳ đuổi bắt lại tiếp diễn từ đầu. Kết quả là xã hội luôn phát triển theo chiều hướng thịnh vượng tịnh tiến, bền vững với thời gian. Thị trường cạnh tranh là mâu thuẫn giữa mọi người được tóm tắt như sau: nỗ lực phấn đấu nhằm vươn lên đến thành công; đối với, cật lực ngăn cản để duy trì sự thành đạt. Những người chưa được thành quả luôn phấn đấu để đạt thành công. Những người đang thành công, hoặc duy trì sự thành công, hoặc tranh đấu để trở nên thành đạt. Những người đã thành đạt luôn cật lực để bảo vệ trọn vẹn thành quả đang có. Trong bất kỳ xã hội nào, số lượng người chưa thành đạt, muốn phấn đấu vươn lên, bao giờ cũng chiếm đa số so với thành phần đã thành đạt. Tự do kinh tế là thị trường cạnh tranh trong đó, ý chí muốn vươn lên để thành đạt của đa số, luôn chiến thắng lòng ích kỷ mong giữ nguyên địa vị của thiểu số. Dù luôn chiếm giữ số đông, nhưng tự do kinh tế không phải là điều kiện tự nhiên và càng không phải là quyền đặc nhiên mà có, mà đa số chưa thành đạt phải luôn tranh đấu và phấn đấu mới hưởng được quyền tự do tự nhiên ấy.
8. Kết luận:
Hiện tượng thường thấy trong chu kỳ suy thoái của nền kinh tế hiện đại là: nhiều xí nghiệp có người muốn làm việc, có đầy đủ nguyên vật liệu, nhưng không tìm được thị trường tiêu thụ, nên buộc nhân viên phải thôi việc. Điều này phản ảnh sự yếu kém về nội lực và viễn lực trong sự thịnh vượng. Đối với nền kinh tế có tính lệ thuộc cao, thay đổi về nhu cầu nơi thị trường giàu, luôn dẫn đến nỗi thống khổ và cảnh bần cùng của người lao động. Có con người, có ý chí, có khả năng, thậm chí còn có trình độ trí thức lao động cao, nhưng vẫn để phí phạm nguồn “nhân lực”, đó là làm suy yếu đi “thực lực” và “nội lực” của sự thịnh vượng. Trong xã hội có tự do kinh tế, con người sẽ tìm cách chuyển đổi các giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đã biết sang nguồn “lợi nhuận tương đối”, nhờ nắm bắt được nhu cầu mới của xã hội, rút ngắn được thời gian suy thoái kinh tế. Trong xã hội không có tự do kinh tế và bị lệ thuộc thịnh vượng, đa số người lao động sẽ phải trông chờ vào kết quả hồi phục kinh tế của xã hội giàu, dù rằng đáp ứng nhu cầu cho thị trường nội địa thừa sức phát sinh ra nhiều hoạt động kinh tế, làm triệt tiêu quá trình suy thoái trong nền kinh tế nội địa.
Điều nghịch lý luôn tồn tại trong các nền kinh tế ngày nay là: khó khăn trong kinh doanh đối với các doanh nghiệp thường là do thừa về nhu cầu sản phẩm hoặc dịch vụ, chứ không phải vì thiếu hụt về tài nguyên gây nên. Trong khi đó, nhu cầu của mọi người trong xã hội lúc nào cũng thiếu chứ không bao giờ thừa. Giải quyết được thỏa đáng điều nghịch lý này với giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” càng cao, là tạo lập được nguồn gốc cho nền kinh tế thịnh vượng và tự chủ.
II. Thực trạng kinh tế Việt Nam:
1. Tiềm năng kinh tế:
Thế mạnh về tài nguyên của nước ta là không cần lo đến hai vấn đề an ninh trọng yếu là lương thực và năng lượng. Sản lượng nông nghiệp trên mỗi hecta đất đang còn thấp so với tiêu chuẩn quốc tế, nhưng vẫn dư lương thực xuất khẩu. Trữ lượng dầu mỏ ước tính khoảng từ 11 đến 33 tỉ thùng, có thể đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia thêm vài thập niên nữa. Tuy nhiên, tiềm năng tài nguyên chỉ là thế mạnh căn bản, nguồn gốc thịnh vượng luôn là ở con người. Xét về yếu tố chủ lực và nội lực thịnh vượng, mọi người dân ta đều có lòng ham muốn sở hữu vật chất và ham thích nhiều nhu cầu mới. Dù lòng ham thích, đua đòi vật chất, theo quan điểm truyền thống là căn bệnh xã hội, nhưng đó là nội lực kích cầu để phát triển kinh tế. Căn bệnh xã hội chỉ tồn tại khi mâu thuẫn trong quan hệ người không được giải quyết thỏa đáng. Thực lực và nội lực thịnh vượng đang tiềm ẩn khi nước ta có trên 80 triệu đồng bào chăm làm việc và ham tiêu thụ. Con số này không chỉ đơn thuần là nguồn nhân công dồi dào và khối người tiêu thụ đông đảo, hầu hết dân số đều biết đọc và biết viết. Đó là tiềm năng nhân sự có trình độ trí thức cao với nhu cầu sống đa dạng, nhưng chưa được phát huy đúng mức. Thế mạnh viễn lực thịnh vượng của nước ta là thói quen tiết kiệm từ thu nhập của người dân ta rất cao và năng lực tài chính của đồng bào hải ngoại ngày một thêm vững mạnh. Nếu có được môi trường đầu tư thông thoáng, nền kinh tế ta sẽ huy động được số lượng lớn vốn đầu tư mà không cần phải tốn nhiều thời gian tích lũy. Tóm lại, khi tài nguyên quốc gia thừa sức cung cấp nhu cầu lương thực và năng lượng tiêu dùng, thì vấn nạn của xã hội là không cần phải lo đến nhu cầu cơm no áo ấm cho hơn 80 triệu công dân. Vấn đề chính là tạo cho họ thêm nhiều cơ hội làm ăn sinh sống, được chia xẻ lợi nhuận tương xứng với đóng góp của bản thân, và cho họ quyền hưởng thụ nhu cầu sống ngày một đa dạng hơn, tiện lợi hơn, tiện nghi hơn, và cao cấp hơn.
2. Định hướng hiện tại:
Nhờ chính quyền hiện nay thi hành đổi mới kinh tế cách đây hai mươi năm mà nước ta mới phát huy được phần nào tiềm năng thịnh vượng sẵn có, bao gồm:
- Chủ lực: bãi bỏ tập thể hóa nông nghiệp và thương nghiệp trả lại quyền tư hữu cho nông dân và tiểu thương, tái tạo được chủ lực thịnh vượng ngay tức khắc.
- Thực lực: mở cửa đầu tư ngoại quốc đẩy mạnh sức đột tiến trong trình độ trí thức lao động, nâng cao được thực lực thịnh vượng trong thời gian ngắn.
- Cơ lực: mở rộng kinh tế đa thành phần mang lại dân ta phần nào tự do trong việc mưu sinh, giải quyết được một phần vướng mắc trong cơ chế thịnh vượng so với thời bao cấp.
- Ngoại lực: nới lỏng kiểm soát thương nghiệp tạo điều kiện thông thương thuận lợi, tái lập được ngoại lực thịnh vượng ngay lập tức.
- Nội lực: áp dụng quy luật kinh tế thị trường cho phép mọi người tự do và chủ động được một phần trong nhu cầu sống, làm tái sinh nội lực thịnh vượng ngay tức thời.
Thành quả thịnh vượng của nền kinh tế ta hiện nay gia tăng gấp bội so với thời kỳ tập trung bao cấp. Đây là kết quả mà mọi người Việt Nam đều mong đợi và kỳ vọng sau khi kết thúc cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc. Tuy nhiên, thay vì tạo điều kiện thuận lợi để toàn dân ta phát huy tối đa mọi tiềm năng thịnh vượng của đất nước, chính sách chính quyền hiện nay lại luôn hạn chế ba nhân tố thuộc về bản chất, trói buộc bốn nhân tố thuộc về cơ chế, nhưng lại muốn phấn đấu để đạt được thịnh vượng. Thành quả thịnh vượng khi đạt được luôn mang nặng tính lệ thuộc và chỉ đem lại được lợi ích cho thiểu số người.
Chính sách kinh tế của chính quyền hiện nay là áp dụng quy luật kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận theo ngôn từ, mục đích của chính sách này là vừa phát triển kinh tế dựa vào hiệu quả của nền kinh tế thị trường, vừa mang lại tính nhân bản để giảm thiểu tính nghiệt ngã từ sự hiệu quả đó. Tuy nhiên, xã hội nhân bản và xã hội chủ nghĩa là hai quan niệm cùng chung mục đích, nhưng khác biệt nhau về phương tiện. Xã hội nhân bản quan niệm chính quyền chỉ là một trong nhiều phương tiện để thực hiện mục đích. Quan niệm xã hội chủ nghĩa gắn liền với tư tưởng của chuyên chính vô sản, chủ trương dùng chính quyền và bạo lực làm công cụ duy nhất để đạt được mục đích. Với quan niệm này, luận theo quan điểm kinh tế học, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa chứa đựng đầy nghịch lý, bởi các mục đích đối nghịch không thể dung hòa nhau gây nên.
2.1) Chủ lực thịnh vượng: nghịch lý về khả năng tư hữu, quyền tư hữu, quyền được bảo vệ tư hữu, và quyền lợi từ quyền tư hữu. Quyền lực nào sẽ bảo vệ quyền tư hữu cho những người thành đạt? Quyền lực nào sẽ bảo vệ quyền tư hữu cá nhân trước yêu cầu trưng dụng vì danh nghĩa lợi ích chung? Liệu rằng luật pháp xã hội có phải nhượng bộ trước quyền lực của chuyên chính vô sản? Nếu dùng chính quyền để thực hiện lẽ công bằng trong quyền tư hữu, mức gia tăng về tài sản tư hữu của những người thành đạt kinh tế sẽ được bảo vệ ra sao? Đâu là giới hạn của quyền tư hữu? Nếu bị giới hạn quyền tư hữu, tính công khai trong tài sản tư hữu sẽ không còn nữa.
2.2) Cơ lực thịnh vượng: mục tiêu hàng đầu của kinh tế thị trường là đạt được lợi nhuận tối đa, dùng bất kể phương tiện kinh doanh. Mục tiêu chính của định hướng xã hội chủ nghĩa là san bằng khoảng cách phân hóa giàu nghèo, bằng bất kỳ biện pháp chính trị. Để thực hiện cả hai mục tiêu đó, chính quyền quyết định thành phần kinh tế nào đạt được lợi nhuận tối đa và thành phần nào buộc phải chia xẻ lợi nhuận. Đây là cơ chế áp đặt, độc quyền, và độc đoán điều phối nền kinh tế. Vướng mắc trong cơ chế kinh tế luôn được giải quyết bằng quyền lực chính trị thay cho kết quả cạnh tranh từ thị trường.
2.3) Nhân lực thịnh vượng: bất cập trong cơ chế kinh tế luôn dẫn đến tình trạng nghịch lý về đối tượng được phục vụ. Những người thành đạt từ phương tiện chân chính phải chia xẻ trách nhiệm xã hội. Ngược lại, người làm giàu từ hoạt động bất chính lại được hưởng trọn kết quả chiếm đoạt. Bởi dùng phương tiện bất chính, nên họ luôn có khả năng che giấu thu nhập hoặc của cải sở hữu hơn là những người làm ăn chân chính. Hơn nữa, do cơ chế phân phối lợi nhuận không được công minh, nên giá trị thặng dư trong nền kinh tế thay vì dùng vào trong mục tiêu xã hội, lại thuộc về sở hữu của thiểu số người quyền lực hoặc giàu có một cách bất chính. Định hướng xã hội chủ nghĩa là sự biện minh cho hình thức đa số phục vụ lợi ích của thiểu số.
2.4) Nội lực thịnh vượng: trong xã hội muốn giàu sang phải dùng phương tiện bất chính, nội lực tiêu thụ của giới giàu thường cho nhu cầu phô trương hơn là cần tiện dụng. Họ dùng nhu cầu phục dịch trong nước, chuộng sản phẩm xa xỉ ngoại nhập, đánh mất đi điểm tựa nội lực thịnh vượng. Mặt khác, do đa số phải phục vụ lợi ích cho thiểu số, nhu cầu tiêu dùng của đa số thường bị quy luật bù trừ chi phối. Họ sẽ không thể nào hưởng được nhiều nhu cầu cao cấp hơn, đáng lẽ ra họ có thể kham nổi. Tìm kiếm và đáp ứng nhu cầu mới trong xã hội là phương tiện làm giàu chân chính, nhưng những người thành công lại không được bảo vệ quyền lợi chính đáng, hoặc bị cướp đoạt thành quả lao động một cách bất công. Nội lực thịnh vượng của đa số luôn bị hạn chế vào những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống.
2.5) Ngoại lực thịnh vượng: hạn chế về nội lực sẽ kìm hãm quá trình thông thương nội địa. Điều kiện trao đổi không còn được tự do nếu chính quyền hiện nay vừa đeo đuổi lợi nhuận tối đa theo quy luật kinh tế thị trường, vừa buộc chia xẻ lợi nhuận theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thiểu số quyền lực sẽ được toàn quyền thao túng thị trường để gia tăng tối đa lợi nhuận và hạ thấp tối thiểu chi phí. Thông tin trao đổi không còn minh bạch, phương thức trao đổi không được thuận lợi, và thủ tục trao đổi không đáng tin cậy, tất cả những điểm yếu kém đó trong thị trường nội địa đều là thế mạnh để duy trì quyền lợi của thiểu số quyền lực. Khi nền kinh tế không thể tự đáp ứng được nhu cầu nội địa, giải pháp duy nhất là phải chuyên gia công, phục vụ nhu cầu thị trường xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ dùng để trao đổi. Nhu cầu tiêu dùng nội địa của nền kinh tế ta luôn bị lệ thuộc vào khả năng tiêu thụ của thị trường xuất khẩu. Theo số liệu của World Bank, giá trị xuất khẩu của ta trong năm 2004 đạt đến hơn 60% tỷ trọng trong tổng sản lượng nội địa (GDP). Do đó, thành quả thịnh vượng của nền kinh tế nước ta là mang nặng tính lệ thuộc.
2.6) Thực lực thịnh vượng: nâng cao trình độ trí thức lao động chỉ mang lại giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” vì đây là hình thức làm giàu chân chính. Thu nhập của một chuyên gia, dù tài giỏi, luôn bị giới hạn vào mãi lực thị trường nội địa và phụ thuộc vào “nội lực” thịnh vượng. Với nền kinh tế bị lệ thuộc, cơ hội gia tăng trình độ trí thức lao động rất thấp, vì khi đa số dân ta không có khả năng tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu, nền công nghiệp ta có rất ít khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chúng ta chỉ có thể làm thợ gia công giỏi chứ khó trở thành nhà thiết kế tài cho các sản phẩm vượt quá khả năng tiêu thụ của mình. Hơn nữa, chúng ta sẽ có rất ít cơ hội thành công trong việc tìm hiểu và tiếp thị sản phẩm phục vụ thị trường tiêu thụ mà nhu cầu sống lại vượt quá mức tưởng tượng của mình. Hiện trạng xã hội đã dẫn đến giá trị thực tế trong xã hội ta, là thực lực thịnh vượng do ở quyền lực chính trị chứ không phải bởi trí thức lao động tạo nên.
2.7) Viễn lực thịnh vượng: thực lực thịnh vượng tùy thuộc vào quyền lực chính trị, do đó viễn lực thịnh vượng phụ thuộc vào kết quả đầu cơ chính trị và duy trì quyền lực chính trị hiện hữu. Lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường luôn gắn liền với quá trình vận động hậu trường chính trị thay cho nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh. Mức độ nhân bản từ định hướng xã hội chủ nghĩa luôn đi đôi với khả năng nhận thức về yếu tố “an” bởi mâu thuẫn kinh tế trong xã hội. Thiểu số quyền lực nếu tự nguyện chia xẻ nguồn lợi nhuận, vì lo cho sự an nguy của giai cấp họ trong tương lai, là việc làm tương đương với sự bố thí.
3. Lý do phải thay đổi định hướng xã hội chủ nghĩa:
Thành phần hưởng lợi nhiều nhất từ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là đảng viên Cộng Sản đang nắm giữ quyền lực chính trị và thiểu số doanh nhân biết tranh thủ ảnh hưởng chính trị. Kế đến là những nhà đầu tư ngoại quốc, nhận nhiều ưu đãi về thuế, chịu ít trách nhiệm về môi trường, sử dụng nhân công với giá rẻ, và được thuận lợi khi khai thác tài nguyên. Với đội ngũ nhân công khá và giỏi, nhà đầu tư ngoại quốc hưởng lợi nhờ đạt “giá trị gia tăng” cao trong sản phẩm hoặc dịch vụ, trả phí tổn với “giá trị thặng dư” thấp trong thị trường nội địa, để thu lại lợi nhuận bằng “giá trị thặng dư” siêu trong thị trường xuất khẩu. Đối với nhà đầu tư ngoại quốc nhắm vào thị trường tiêu thụ trong nước, nguồn lợi nhuận của họ là “giá trị thặng dư” cao tính theo giá tiền tệ nội địa, do chi phí nhân công rẻ. Nguồn lợi nhuận này được chuyển đổi sang ngoại tệ bằng tổng trị giá sản lượng xuất khẩu của nền kinh tế nước ta. Trái nghịch với thực tế của một quốc gia nghèo, kém phát triển, lượng ngoại tệ chi tiêu cho nhu cầu tiêu thụ của thiểu số quyền lực và giàu có trong nước, đang chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số ngoại tệ kiếm được. Do đó, không cần đến giải pháp kinh tế cao siêu, chỉ cần bãi bỏ nỗ lực do chính quyền làm rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo, sẽ mang lại phần nào tính công minh trong quá trình phân phối lợi nhuận quốc gia. Thay vào nhu cầu xa xỉ của thiểu số giàu có, nhưng không ý thức được giá trị đồng tiền, là các nhu cầu thiết yếu, làm gia tăng trình độ trí thức lao động như nâng cấp công cụ sản xuất, hoặc hình thành nội lực thịnh vượng do nâng cao thu nhập của người lao động. Kết quả là nền kinh tế nước ta sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư ngoại quốc nhắm vào thị trường tiêu thụ trong nước, từng bước gia tăng nội lực và thực lực thịnh vượng.
Hiện nay, chính quyền nước ta luôn dành nhiều ưu đãi cho giới đầu tư ngoại quốc và các doanh nghiệp chuyên xuất khẩu. Hệ thống kinh tế quốc doanh vẫn còn độc quyền điều hành nền kinh tế chủ lực của đất nước. Trong khi đó, các doanh nghiệp tư vừa và nhỏ chuyên phục vụ nhu cầu trong xã hội, lại bị kiềm chế, trói buộc bằng nhiều luật lệ, quy định bất hợp lý, chồng chéo nhau. Định hướng xã hội chủ nghĩa không cho phép bất kỳ doanh nghiệp tư hoặc cá nhân nào trở nên giàu mạnh bằng phương tiện kinh tế chân chính. Bất kỳ thành phần ngoài cơ cấu nhà nước có khả năng ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế, đều là hiểm họa đối với định hướng này. Đó là điều nghịch lý vì khi doanh nghiệp hoặc cá nhân trở nên giàu mạnh nhờ làm ăn chân chính, chuyên phục vụ nhu cầu trong xã hội, thành quả thịnh vượng của họ luôn gắn liền với sự phồn thịnh của nền kinh tế nội địa. Với tính liên đới đó, chiến lược kinh doanh vĩ mô hàng đầu của họ là sẽ tìm cách nâng cao sức tiêu thụ của thị trường trong nước, khởi đầu là công nhân họ. Ngược lại, khi sự thịnh vượng của họ gắn liền với hoạt động xuất khẩu, quan tâm hàng đầu của họ bao giờ cũng cố làm giảm giá thành phẩm, trong đó chi phí lao động đóng vai trò chủ lực. Mục đích của định hướng này không phải là nhân bản hóa tính nghiệt ngã của nền kinh tế thị trường, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động, mà dùng để nhân nghĩa hóa tính bạo tàn của chủ nghĩa xã hội, giúp duy trì quyền lực của thiểu số cầm quyền.
Sau hai mươi năm đổi mới kinh tế, đến nay đất nước ta đã xuất hiện nhiều nhà quản lý tài năng, doanh nhân tài giỏi. Sau thời gian làm việc với các công ty nước ngoài, con đường thăng tiến của họ sẽ bị khựng lại, dù rằng tài năng cá nhân còn cho phép họ tiến xa hơn. Lợi nhuận dành cho nhà quản lý thường là thứ yếu, sau khi ưu tiên phân chia lợi tức cho nhà đầu tư. Hơn nữa, thu nhập của họ lại phụ thuộc chủ yếu vào năng xuất lao động của công nhân. Nhà quản lý nào muốn vượt rào cản trên con đường thăng tiến, phải tìm cách nâng cao năng xuất làm việc của công nhân. Đây là mục tiêu cực kỳ khó khả thi, khi nền kinh tế nước ta đang bị lệ thuộc nặng. Nâng cao năng xuất để gia tăng sản phẩm ở phần cung nhằm đáp ứng nhu cầu đang bão hòa của thiểu số giàu hoặc cho thị trường xuất khẩu, sẽ có nhiều khả năng làm giảm sút lợi nhuận kinh doanh. Trên lý thuyết, năng xuất lao động của một người quyết định mức thu nhập cá nhân. Đối với thực tế nước ta, gia tăng năng xuất sản xuất có thể sẽ không mang lại được mức gia tăng tương ứng trong phần thu nhập. Hậu quả là nền kinh tế ta đánh mất nội lực thịnh vượng do cuộc sống của đa số công nhân luôn nghèo khó, vì thu nhập không thể khá nổi. Mãi lực thị trường nội địa yếu kém sẽ kéo theo thu nhập của các nhà quản lý tài ba. Do đó, cơ hội thăng tiến của các nhà quản lý tài, doanh nhân giỏi là tạo lập cơ nghiệp riêng, thay vì cố gắng thăng tiến trong hệ thống công ty ngoại quốc. Đã có tài, ai cũng muốn tạo dựng cơ nghệp riêng, nhưng họ phải từ bỏ môi trường làm việc ổn định, thu nhập cao, đối mặt với bao rủi ro, bất ổn. Nếu bãi bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, chú trọng vào xây dựng nội lực thịnh vượng, sẽ tạo nhiều cơ hội cho các doanh nhân chấp nhận rủi ro. Ban đầu nhiều người trong số họ sẽ thất bại, nhưng xã hội luôn có nhiều cơ hội để họ tận dụng kiến thức và kinh nghiệm. Điều quan trọng nhất là dẫu bị thất bại hoàn toàn trong cuộc phiêu lưu kinh tế, kiến thức và kinh nghiệm của họ, là trí thức lao động, luôn có giá trị hơn sau mỗi lần thất bại. Với tiềm năng thịnh vượng sẵn có, sau một thời gian, nước ta sẽ có được nhiều công ty do dân ta làm chủ, có đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc nội lẫn quốc tế.
Nói tóm lại, bản chất thực của định hướng xã hội chủ nghĩa là bảo vệ độc quyền kinh tế và đặc quyền chính trị của đảng cầm quyền. Trong vai trò điều hành đất nước, khi áp đặt định hướng này lên nền kinh tế quốc dân, chính quyền hiện nay đã không chú trọng đến việc xây dựng thịnh vượng xã hội, mà đảm nhận vai trò vừa cho thuê nhân công lao động, vừa bán đi tài nguyên đất nước.
III. Giới thiệu giải pháp xây dựng nền kinh tế thịnh vượng tự chủ:
Với tiềm năng kinh tế sẵn có, đất nước ta hoàn toàn có đủ mọi khả năng để xây dựng nền kinh tế thịnh vượng tự chủ, mang lại lợi ích đến với từng người dân, từng bước trở thành một trong những cường quốc lớn trên thế giới.
1. Cơ lực thịnh vượng:
Tự do kinh tế là điều kiện tiên quyết nhất để tổng hợp được mọi nguồn lực tạo nên thành quả thịnh vượng. Kinh tế thị trường chỉ là hệ quả của các quyền tự do kinh tế, chứ không phải là công cụ để mang lại quyền tự do kinh tế. Con người phải có quyền tự do trao đổi, tự do cạnh tranh, tự do được hưởng thụ quyền lợi từ thành quả lao động mới hình thành được nền kinh tế thị trường, vận hành theo nguyên tắc “thuận mua vừa bán”. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường nếu không bị điều phối, luôn gây nên vướng mắc trong cơ chế thịnh vượng, vì nó sẽ luôn sinh ra sự độc đoán khi trao đổi, độc quyền trong kinh doanh, và độc hưởng về quyền lợi của những kẻ giàu muốn duy trì sức mạnh kinh tế.
Tự do kinh tế là hệ quả của quyền tự do và công bằng xã hội. Chương II (“Quan hệ người và thịnh vượng kinh tế”) sẽ luận bàn về quyền tự do chính trị, là điều kiện tiên quyết để đạt được mọi quyền tự do. Chương III (“Tự do và các nguyên tắc tự do”) sẽ khảo sát chi tiết về các quyền tự do. Chương V (“Dân chủ và các nguyên tắc dân chủ”) sẽ tìm hiểu hình thức tổ chức chính quyền hiệu quả nhất xưa nay, để thực thi quyền tự do chính trị và các quyền tự do liên đới. Chương IV (“Công bằng và các nguyên tắc công bằng”) sẽ đề cập đến những nguyên tắc công bằng xã hội. Đây là những bước cần thiết để xây dựng cơ lực thịnh vượng cho bất kỳ xã hội, trong đó có đất nước ta.
Chương VII (“Kinh tế thị trường”) tìm hiểu các nguyên tắc trong cơ chế kinh tế thị trường nhằm bảo đảm quyền tự do kinh tế cho mọi người. Chương VIII (“Vai trò của nhà nước”) bàn luận về vai trò nhà nước trong việc điều phối nền kinh tế, cũng như tầm ảnh hưởng của chính sách công đối với các hoạt động kinh tế. Đây là những chính sách công, nhằm duy trì và điều phối hiệu quả cơ lực thịnh vượng cho nền kinh tế nước ta.
2. Chủ lực thịnh vượng:
Chủ lực thịnh vượng là bảo đảm quyền tư hữu bằng quyền lực của luật pháp xã hội. Mọi mâu thuẫn về kinh tế, xã hội phải được giải quyết trong vòng luật pháp, tuân theo luật pháp, và bình đẳng trước luật pháp, mới bảo toàn được tính công khai của tài sản tư hữu và tính công bằng trong quyền tư hữu. Quyền tự do chính trị và lẽ công bằng xã hội là hai yếu tố quyết định đến chủ lực thịnh vượng.
3. Nhân lực thịnh vượng:
Khi được tự do kinh tế, thành quả thịnh vượng cá nhân luôn gắn liền với lợi nhuận từ phương tiện làm giàu chân chính. Do có cạnh tranh bình đẳng, nên lợi nhuận trong kinh doanh luôn phụ thuộc vào sức tiêu thụ của thị trường đó. Người làm giàu chân chính từ xã hội nghèo thường nhận thức được điều này. Dùng giá trị thặng dư để tái đầu tư vào xã hội mang lại thịnh vượng đến cho mình, bao giờ cũng thu được lãi xuất cao hơn là tiêu pha cho nhu cầu phô trương, hoặc mang đi tích lũy. Tự do kinh tế sẽ mang lại nhân lực thịnh vượng, chuyển đổi quan hệ kinh tế từ đa số phục vụ thiểu số sang đa số phục vụ lẫn nhau. Mối tương quan mới là muốn nâng cao lợi nhuận kinh doanh, phải gia tăng mãi lực tiêu thụ của xã hội. Các doanh nhân giỏi, nhà quản lý tài luôn tìm thấy nhiều cơ hội làm giàu bằng cách phục vụ nhu cầu sống của đa số nghèo, hơn là đáp ứng tiện nghi sinh hoạt cho thiểu số giàu. Khi ông Henry Ford, người sáng lập hàng xe Ford, tăng gấp đôi lương công nhân để họ thêm gắn bó với hãng và thu hút nhân tài, các công ty đối thủ buộc phải làm theo. Kết quả ngoài dự kiến của mọi người là chỉ sau vài năm, lợi nhuận ngành kỹ nghệ xe hơi ở Mỹ gia tăng gấp bội vì nhiều người có khả năng mua nổi chiếc xe. Chỉ sau vài thập niên, từ tiện nghi xa xỉ dành riêng cho người giàu, sở hữu một chiếc xe hơi đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống mọi người dân Mỹ.
Nhân lực thịnh vượng là hệ quả tất yếu của quyền tự do kinh tế. Chương XIV (“Phương thức đánh thức tiềm năng kinh tế Việt Nam”) sẽ khảo sát thêm chi tiết về các nguyên tắc cơ bản, để từng bước gia tăng mãi lực tiêu thụ cho mọi người dân nước ta.
Chương VIII khi bàn về vai trò nhà nước, sẽ khảo sát vài mục tiêu xã hội trong chính sách công nhằm mang lại cơ hội kinh tế cho thành phần kém may mắn trong xã hội. Yếu tố “an” trong xã hội phụ thuộc vào cơ hội thuận tiện để mỗi người tự giải quyết triệt để và thỏa đáng được các mâu thuẫn kinh tế trong cuộc sống. Dùng phương tiện kinh tế để giữ “an” cho xã hội, luôn củng cố sức mạnh cho nhân lực thịnh vượng.
4. Nội lực thịnh vượng:
Con đường phát triển truyền thống của các nước trong khu vực là xuất khẩu hàng hóa phục vụ nhu cầu của thị trường Âu Mỹ giàu có. Quan niệm chung của chọ về việc xây dựng nền tảng thịnh vượng là xuất khẩu để tích lũy ngoại tệ. Điều này không khác biệt mấy so với quan điểm của chủ nghĩa Trọng Thương (Mercantilism) ở châu Âu cách đây ba thế kỷ. Để đạt được mục tiêu này, đa phần công dân trong xã hội phải hy sinh quyền lợi kinh tế, chấp nhận thu nhập thấp so với công sức lao động bỏ ra, nhằm gia tăng sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Thực ra tích lũy ngoại tệ nhiều hơn mức cần thiết sẽ gây hai điều thiệt cho nền kinh tế. Đó là mất đi một phần nguồn vốn đầu tư nội địa và phần nào thành quả thịnh vượng khi giá trị ngoại tệ trượt giá. Ưu tiên phục vụ thị trường xuất khẩu sẽ đánh mất đi nội lực thịnh vượng. Xuất khẩu chỉ là phương tiện để gia tăng trí thức lao động với mục tiêu làm phát huy nội lực thịnh vượng. Do đó, tiền đề đặt ra để thu hút vốn đầu tư nhắm vào nhu cầu nội địa là: khi nước ta phát triển được thị trường tiêu thụ cho 80 triệu người tiêu dùng khó tính và đòi hỏi tiêu chuẩn cao, nền kinh tế ta sẽ tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mà thế giới sẽ cần.
Đất nước ta luôn có được các điều kiện “cần” và “đủ” để thúc đẩy nội lực thịnh vượng. Vấn đề chính là không cần tìm biện pháp phát huy, mà phải tìm cách tháo gỡ mọi yếu tố ràng buộc.
5. Ngoại lực thịnh vượng:
Ngoại lực thịnh vượng của nền kinh tế nước ta đang có nhiều khuyết điểm phải được cải cách và nâng cấp toàn diện, từ thượng tầng luật pháp đến hạ tầng kiến trúc. Thượng tầng pháp lý phải bảo đảm điều kiện trao đổi được tự do, thông tin trao đổi được minh bạch, phương thức trao đổi đáng tin cậy, và thủ tục trao đổi phải nhanh gọn. Hạ tầng cơ sở phải cung cấp hệ thống trao đổi hiệu quả và thuận lợi. Phải tạo dựng căn bản ngoại lực thịnh vượng, mới có được môi trường tốt để phát triển ngành tài chính, thị trường tín dụng, mua bán, trao đổi theo chiều hướng thông thoáng và vững mạnh. Thượng tầng pháp luật có nghiêm ngặt, nghiêm chỉnh, và nghiêm minh, cam kết thương mại mới được công minh, công bạch, và công bằng. Hạ tầng kiến trúc có hiệu quả, hiệu nghiệm, và hiệu năng, quá trình thông thương mới được thuận lợi, thuận tiện, và thuận tiến.
Tự do chính trị là điều kiện quyết định tính “nghiêm công” của thượng tầng luật pháp. Chính quyền dân chủ đại diện quyền lợi của đa số dân, là sức mạnh tạo dựng nên mức độ “hiệu thuận” trong hạ tầng cơ sở. Chương VI (“Định chế và hợp chế xã hội”) sẽ khảo sát chi tiết về ngành tài chính và thị trường tín dụng, khi bàn về những điều kiện “cần” và “đủ” để nâng cao đẳng cấp tổ chức của các định chế tài chính nước ta trong tiểu mục về “định chế tài chính”. Chương VI sẽ khảo sát một số nguyên tắc hoạt động của hai định chế thuộc về thượng tầng luật pháp qua tiểu mục “định chế chính quyền” và “định chế pháp lý”.
Chương X (“Tương quan giữa đầu tư của nhà nước và tư nhân”) sẽ thảo luận tác dụng của chính sách công trong thị trường tài chính, nhằm tận dụng tối đa tầm ảnh hưởng của ngoại lực thịnh vượng.
6. Thực lực thịnh vượng:
Hiện nay nước ta luôn bị thua thiệt về mọi mặt khi cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Lợi thế duy nhất của chúng ta là về kinh nghiệm phát triển vì là quốc gia đi sau. Những kinh nghiệm này sẽ giúp chúng ta phát huy được thế mạnh của mình, để đạt giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cao nhất, hoán chuyển được tối đa sang nguồn “lợi nhuận tương đối” mà không phải tốn thời gian thăm dò nhu cầu thị trường. Xây dựng nền tảng thịnh vượng bằng cách nâng cao trình độ trí thức lao động, là phương pháp hay nhất nhằm phát huy triệt để lợi thế duy nhất này của chúng ta. Những kinh nghiệm lịch sử đó đa phần không thể tiếp thu được từ lý thuyết trường lớp, mà phải học hỏi nơi thực tế thương trường. Tiếp xúc và làm việc với cung cách quản lý khoa học của các công ty nước ngoài là môi trường tốt để thụ huấn kinh nghiệm. Đối đầu và cạnh tranh trực tiếp với họ ngay trên thị trường nội địa là cơ hội hay để thử thách kiến thức. Để xây dựng thực lực thịnh vượng vững chắc, nền kinh tế ta phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân tài giỏi, có tinh thần mạo hiểm, phát huy được tối đa tài năng. Tự do kinh tế là điều kiện quan trọng nhất để mang lại môi trường thuận lợi đó.
Những gì con người làm được trong cuộc sống là vô hạn, điều gì qui định được trong luật pháp là hữu hạn. Mọi người phải có quyền tự do mạo hiểm thực hiện mọi điều luật pháp không cấm, thay vì chỉ được làm những gì luật pháp cho phép như hiện nay. Do đó, khả năng tiến triển thực lực thịnh vượng là do ở cơ chế kinh tế và chính trị. Quyền tự do, lẽ công bằng xã hội là hai nguyên tắc căn bản nhất để tạo nên khả năng đó.
Những gì con người ham muốn về vật chất là vô hạn, khả năng sở hữu do công sức lao động mang lại luôn là hữu hạn. Mọi người phải dùng phương tiện chân chính để thỏa mãn lòng ham muốn, thay vì lạm dụng quyền lực bất chính để chiếm đoạt tài sản muốn sở hữu. Cách thức hiệu quả nhất để làm giàu là tìm tòi lợi ích cộng hưởng, thay vì tranh nhau theo quy luật bù trừ. Bảo đảm tự do kinh tế, tự do chính trị, và phát huy nội lực thịnh vượng sẽ phát sinh thêm nhiều cơ hội làm giàu đó.
Những gì đã biết trong kiến thức nhân loại là vô hạn, khả năng học hỏi điều chưa biết của con người là hữu hạn. Mọi người phải hợp tác lẫn nhau để hỗ trợ kiến thức cho nhau, thay vì tìm cách tiếp thu tất cả những gì cần biết. Thực lực thịnh vượng chỉ tổng hợp được sức mạnh khi có sự cộng tác của nhiều người, để nâng cao hiệu quả lũy tiến trong trí thức lao động. Ngạn ngữ phương Tây có câu “kiến thức mang chia xẻ là kiến thức được nâng cao”, hoặc mở rộng ra rằng: kiến thức mang hợp tác là kiến thức được nâng cao lũy tiến. Chương VI sẽ luận bàn chi tiết về đẳng cấp tổ chức của doanh nghiệp trong tiểu mục “hợp chế kinh tế” và tìm hiểu các điều kiện “cần” và “đủ” để nâng cao đẳng cấp tổ chức cho các doanh nghiệp ta.
Những gì con người muốn biết là vô hạn, thời gian học hỏi và tìm tòi luôn là hữu hạn. Mọi người phải toàn quyền tự do lựa chọn kiến thức muốn tiếp thu, thay vì bị nhồi nhét theo lối học từ chương như hiện nay. Trình độ trí thức lao động chỉ tiến triển được, nếu con người có được tự do trong tư tưởng, tự lập trong ý thức, và tự chủ trong nền giáo dục. Chương VI sẽ tìm hiểu mô hình cho hệ thống giáo dục nước ta trong tiểu mục “định chế giáo dục”, nhằm đào tạo nhân tài hội đủ mọi yêu cầu trên.
Con người không thể nâng cao trình độ trí thức lao động nếu sức khỏe yếu kém, hoặc hệ thống y tế không thể chăm sóc được đầy đủ sức khỏe cho họ. Chương VI, tiểu mục “định chế y tế” sẽ tìm hiểu mối quan hệ về quyền lợi trong hệ thống y tế, nhằm tìm hiểu vài giải pháp thiết thực cho thực trạng nền y tế ta hiện nay.
7. Viễn lực thịnh vượng:
Đối với một quốc gia kém phát triển như nước ta, viễn lực thịnh vượng là yếu tố bảo đảm thành quả thịnh vượng đạt được ở hiện tại, sẽ liên tục tiến triển trong tương lai. Với kinh nghiệm phát triển học hỏi được từ các quốc gia đi trước, nền kinh tế ta được nhiều thuận lợi trong lĩnh vực đầu tư vì không cần phải dự đoán hoặc tìm hiểu nhu cầu thị trường trong tương lai.
Mặt khác, trong dân gian ta đang có rất nhiều ý tưởng hay, phát minh có ích, và nhiều cách làm gia tăng giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”, nhưng chưa biết kết quả có đạt được “lợi nhuận tương đối” khi giới thiệu trên thị trường. Đây là cơ hội làm giàu, thông qua lợi ích cộng hưởng, bằng cách khám phá ra nhu cầu mới; hoặc đạt được giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” cao, với số lượng nhiều hơn, hậu quả độc hại thấp hơn. Để biến cơ hội thành lợi ích hiện thực, nền kinh tế ta cần thị trường tài chính và các định chế chuyên về đầu tư rủi ro.
Chương IX (“Quan hệ vĩ mô giữa tiêu dùng, thặng dư và đầu tư”) sẽ tìm hiểu mối liên hệ giữa tiêu dùng, thặng dư, và đầu tư để phát triển thị trường tài chính chuyên đầu tư rủi ro. Chương X (“Tương quan giữa đầu tư của nhà nước và tư nhân”) sẽ khảo sát mối quan hệ giữa hai nguồn vốn đầu tư và chính sách công để sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó.
8. Kết luận:
Với tiềm năng giàu mạnh sẵn có, nền kinh tế ta đã đạt được thành quả thịnh vượng nhất thời mà không cần đến tự do chính trị, nhưng sẽ phải trả giá rất đắt. Bản chất thịnh vượng luôn mang nặng tính lệ thuộc và thành quả thịnh vượng là giá trị vay mượn, sẽ phải trả giá đắt bằng hậu quả suy đồi và suy thoái về con người lẫn môi trường trong tương lai. Những gì mà thiểu số đặc quyền, đặc lợi đang vơ vét, tích lũy hiện tại là kết quả chiếm đoạt công sức lao động, đồng thời tước đoạt cơ hội vươn lên của thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau. Đây không phải là bản cáo trạng, mà đó là sự thật mà ai cũng biết, kể cả những người đang trục lợi.
Người Việt Nam khi ở trong nước chỉ nuôi nổi bản thân, nhưng khi sinh sống và làm việc ở nước ngoài, lại có khả năng làm giàu không những cho gia đình, mà còn đóng góp đáng kể vào sự phồn thịnh của quốc gia sở tại. Được trợ vốn tư bản, có trình độ trí thức lao động, nhờ mãi lực thị trường mạnh, là những yếu tố dễ nhận thấy, đã giúp người Việt Nam ta thành công ở nước ngoài. Đó cũng chính là các yếu tố đang có sẵn trong tiềm lực thịnh vượng của đất nước. Điều nghịch lý là tại sao dân ta không có cơ hội phát huy tài năng ở ngay trong nước, mà phải tìm cách từ bỏ đất nước mà ai cũng nặng lòng gắn bó, để tận dụng cơ hội tốt hơn nơi xứ người?
Đất nước ta chứa đựng nhiều điều nghịch lý, người dân ta phải gánh chịu quá nhiều khổ đau. Thiểu số cầm quyền luôn ý thức được bản chất nghịch lý, nhưng họ đang bí lối vì vẫn muốn duy trì đặc quyền, đặc lợi cho giai cấp họ. Đối với người dân ta, ai có cơ hội thoát được khỏi cảnh bất công, nghịch lý đã và đang tìm đưòng ra đi. Đa số còn ở lại hoặc cam chịu kiếp sống lầm than; hoặc giành giật từng cơ hội kinh tế hiếm hoi; hoặc lý tưởng hơn, tìm cách vơi đi nỗi thống khổ; hoặc tệ hại hơn, càng làm gia tính nghịch lý. Nếu còn đọc đến đây, có thể bạn là thiểu số thầm lặng đang tìm cách lật sang trang sử hiện tại của đất nước, gióng sức thúc đẩy quá trình tiến triển của bánh xe thời đại, mang nặng hoài bão xoá bỏ mọi nghịch lý, bất công trong xã hội ta.
Tập tài liệu này dành cho những người như bạn. Chúng ta có thể tự kỷ là số ít, nhưng thực chất chúng ta đang là số nhiều. Chúng ta có thể đang bi quan vì bí lối, nhưng chúng tôi có lòng tin mãnh liệt, thể hiện qua các luận cứ trong chương này, rằng đây là nền tảng lý luận cơ bản cho các giải pháp thiết thực mà đất nước ta đang cần. Chúng ta có thể bị choáng ngợp vì tầm cỡ công việc quá lớn, nhưng việc này sẽ trở nên nhỏ bé nếu so sánh với nỗ lực đấu tranh giành độc lập của cha ông ta xưa nay. Hợp quần chúng ta sẽ khám phá ra sức mạnh, hợp tác chúng ta sẽ tìm thấy niềm tin, và hợp lực chúng ta sẽ đạt đến được mục đích.
Rất ít có quốc gia nào trên thế giới sánh được với nước ta về sự phong phú và nét đặc sắc của nền văn học dân gian qua kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca, câu vè, câu phú, câu đối... Đó là kết quả đóng góp nối tiếp nhau của bao thế hệ tiền nhân nhằm phục vụ nhu cầu văn hóa trong xã hội ta từ xưa. Mai đây, khi chúng ta tạo cơ hội để mọi người dân cùng có quyền tự do cung cấp, đáp ứng nhu cầu vật chất và dịch vụ cho nhau, chắc rằng trong tương lai sẽ có ít quốc gia nào bì được với nước ta về mẫu mã đa dạng, số lượng phong phú, cũng như chất lượng tuyệt hảo của các loại sản phẩm, sản thuật được thiết kế tại Việt Nam, với ưu tiên phục vụ cho mọi người dân Việt Nam. Đó là mục đích tối hậu từ thành quả thịnh vượng kinh tế mà chúng ta muốn đạt được.
Người viết giữ bản quyền. Độc giả tự do truyền bá, nếu truyền đạt được là điều rất mong muốn, nhưng không được sử dụng với mục đích thương mại hoặc lợi nhuận.
12/2005
(C) 2005 Nguyên Long
