Viet Nam

Thursday, October 20, 2005

Chuong II: Quan He Nguoi va Thinh Vuong Kinh Te

Chương II: Quan Hệ Người và Thịnh Vượng Kinh Tế

Từ khi con người sống cộng sinh và ham muốn sở hữu vật chất, đa phần mâu thuẫn giữa họ đều có nguồn gốc từ quan hệ kinh tế. Xã hội càng phát triển, con người càng không thể giải quyết thỏa đáng mâu thuẫn bằng quan hệ kinh tế, mà phải cần dùng đến hai mối quan hệ mới là chính trị và đạo đức.

Quan hệ chính trị sử dụng quyền lực để giải quyết mâu thuẫn. Bạo lực là công cụ định đoạt quyền lực trong xã hội sơ khai; chính quyền là phương tiện để đạt được quyền lực trong xã hội văn minh. Dưới mọi hình thức, quyền lực là biện pháp để duy trì trật tự xã hội, với mục đích giải quyết mâu thuẫn theo tiêu chuẩn riêng của thành phần đang nắm giữ quyền hành.

Quan hệ đạo đức chuyên dựa vào nhân cách để hạn chế mâu thuẫn. Đạo đức là sản phẩm văn hóa trong xã hội thường do các triết gia đề xướng. Nhận thấy rằng quyền lợi và quyền lực luôn là nguồn gốc của mọi mâu thuẫn, nên nhân cách là mẫu mực đạo đức làm mọi người tự nguyện hy sinh quyền lực và quyền lợi cá nhân để phục vụ lợi ích chung. Tuy có nhiều mực thước khác nhau, song quan điểm chung là một người có nhân cách phải biết tự nguyện giới hạn các lợi thế trong quan hệ kinh tế và chính trị để tránh sinh tư lợi.

Trong quan hệ người thường phát sinh ra những mâu thuẫn chính sau đây:
- Mâu thuẫn sở hữu: do bị yếu tố “chủ lực” thịnh vượng ảnh hưởng. Mâu thuẫn này do quan hệ chính trị và kinh tế gây nên. Càng độc quyền sở hữu tư bản, hoặc càng được tự do khai thác tài nguyên, mâu thuẫn càng có bản chất áp bức.
- Mâu thuẫn thị trường: do bị yếu tố “ngoại lực” thịnh vượng ảnh hưởng. Mâu thuẫn này do quan hệ kinh tế và chính trị gây nên. Điều kiện trao đổi càng bất công, hoặc thủ tục trao đổi càng bất tiện, kết quả trao đổi càng bất lợi, mâu thuẫn càng có bản chất bốc lột.
- Mâu thuẫn cơ chế: do bị yếu tố “cơ lực” thịnh vượng ảnh hưởng. Mâu thuẫn này thuần túy do quan hệ chính trị tạo thành. Cơ chế kinh tế càng phát sinh nghịch lý bởi bị nhiều vướng mắc, tắc mắc, mâu thuẫn càng có bản chất cưỡng chế.
- Mâu thuẫn “nhân hệ”: do bị yếu tố “nhân lực” thịnh vượng ảnh hưởng. Mâu thuẫn này là do quan hệ chính trị và đạo đức gây nên. Thế lực cá nhân, hoặc ảnh hưởng gia đình càng lớn, mâu thuẫn càng có bản chất lấn áp.
- Mâu thuẫn nội tâm: do bị yếu tố “nội lực” thịnh vượng ảnh hưởng. Mâu thuẫn này chủ yếu là do quan hệ đạo đức gây nên. Áp lực xã hội vì nhu cầu phô trương, bon chen, hay đua đòi càng cao, mâu thuẫn càng có bản chất ganh tị.
- Mâu thuẫn trí thức: do bị yếu tố “thực lực” thịnh vượng ảnh hưởng. Mâu thuẫn này thuần túy do quan hệ kinh tế mang lại. Càng ít khác biệt về trình độ trí thức lao động, mâu thuẫn càng có bản chất ganh đua. Độ khác biệt càng nhiều, mâu thuẫn càng có bản chất ganh ghét.
- Mâu thuẫn giai cấp: do bị yếu tố “viễn lực” thịnh vượng ảnh hưởng. Mâu thuẫn này do ba mối quan hệ là đạo đức, kinh tế, và chính trị gây nên. Càng nỗ lực để bảo toàn thành quả thịnh vượng và địa vị xã hội hiện tại, mâu thuẫn càng có bản chất giai cấp.

Mâu thuẫn là hệ quả tự nhiên trong quan hệ người. Đó có thể ví như là động lực điều hành guồng máy thịnh vượng kinh tế. Không có mâu thuẫn, hoặc mâu thuẫn tối đa, cỗ máy thịnh vượng kinh tế không thể vận hành và xã hội sẽ không còn sức phát triển. Phương thức giải quyết mâu thuẫn là nhân tố quan trọng nhất, quyết định đến khả năng vận hành thông suốt của guồng máy thịnh vượng kinh tế.
- Phương thức giải quyết càng tự kìm hãm quyền lực để hạn chế quyền lợi hoặc ngược lại, mâu thuẫn càng mang tính chất cá nhân xung đột với bản thân; với thời gian, áp lực nội tâm dễ dẫn đến nhân cách gian dối. Xã hội theo mô hình này thường phát sinh nghịch lý “thịnh dối”, trong đó thành quả “thịnh” thường nương vào giá trị đạo đức giả “dối”. Sự thịnh vượng thường bị mẫu mực đạo đức làm hạn chế. Đây là giải pháp bằng quan hệ đạo đức thuần túy.
- Phương thức giải quyết càng lạm dụng quyền lực để cưỡng chế kẻ yếu, mâu thuẫn phát sinh sẽ càng thêm gay gắt; với thời gian, áp lực giải tỏa sẽ dẫn đến hậu quả bạo động. Xã hội theo mô hình này luôn phát triển theo chu kỳ “thịnh suy”, trong đó thành quả “thịnh” của thành phần này phải là hệ quả “suy” của thành phần khác. Sự thịnh vượng thường có tính chất xây dựng để rồi bị phá hủy, tiến trình phát triển rất hạn chế với thời gian. Đây là giải pháp bằng quan hệ chính trị thuần túy.
- Phương thức giải quyết càng phát huy quyền lực để kìm chế lẫn nhau, mâu thuẫn phát sinh càng thiên về ganh đua; với thời gian, áp lực đối nghịch sẽ mang lại kết quả cạnh tranh. Xã hội theo mô hình này luôn phát triển theo quá trình “thịnh tiến”, trong đó thành quả “thịnh” của thành phần này thường mang lại hiệu quả “tiến” cho nhiều thành phần khác. Sự thịnh vượng luôn có tính chất xây dựng làm nền tảng đi lên, tiến trình phát triển luôn được nâng cao với thời gian. Đây là giải pháp bằng cách kết hợp quan hệ chính trị và kinh tế.
- Phương thức giải quyết bằng quan hệ kinh tế thuần túy thông qua trung gian quan hệ chính trị, làm tiêu vong mâu thuẫn bởi năng xuất lao động cao, mọi người “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, đã được thực tế chứng minh là giải pháp không tưởng đối với bản chất con người chúng ta.

Xã hội muốn khỏi tiêu vong, phải luôn phát sinh mâu thuẫn giữa người với người. Xã hội lý tưởng không phải là xã hội tìm cách triệt tiêu mọi mâu thuẫn, mà là xã hội có cách giải quyết mâu thuẫn theo tinh thần công bằng và dựa trên chiều hướng “thịnh tiến”.

Chương này luận bàn các khía cạnh về mâu thuẫn trong quan hệ người và khảo sát những phương thức giải quyết tiêu biểu xưa nay trong lịch sử nước ta; sau đó sẽ tìm hiểu vài nguyên tắc chung cho các giải pháp thiết thực, với mục đích là mang lại kết quả “thịnh tiến” cho xã hội ta.

I. Mâu thuẫn trong quan hệ người:

1. Mâu thuẫn và tiến trình phát triển xã hội:
Có thể nói, con người là bộ máy sinh học phức tạp biết so sánh. Do tính hữu hình và hữu hạn của vật chất, bản năng so sánh là nguồn gốc nẩy sinh tính tham lam, ích kỷ, lòng ham muốn và ganh tị trong mỗi người. Đối với đa số mọi người trong xã hội, không như những nhà tu hành, đều cần đến nhu cầu vật chất, nên lúc nào cũng nẩy sinh mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế. Quan hệ kinh tế càng đa dạng, mâu thuẫn phát sinh từ quá trình phân phối lợi nhuận càng gia tăng. Thành quả thịnh vượng cá nhân luôn gắn liền với kết quả đó, do đó khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong xã hội là mực thước dễ nhận thấy nhất, thường được dùng để đo lường mức độ gay gắt trong mâu thuẫn.

Lý thuyết Marxist kết luận rằng, mâu thuẫn trong quan hệ người sẽ tự triệt tiêu khi xã hội không còn có phân hóa giàu nghèo, của cải vật chất dư thừa, mọi người đều “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Khi đó, quan hệ chính trị sẽ không còn cần thiết, và quan hệ đạo đức sẽ thôi đề cập đến lẽ công bằng khi phân chia lợi nhuận vật chất. Thực ra, mâu thuẫn giữa mọi người chỉ tiêu vong, khi họ không cần dùng đến khả năng so sánh. Hậu quả là họ sẽ mất đi tính năng thích nghi và động năng phát triển. Tuy nhiên, lý thuyết của Marx đã được chứng minh qua thực tiễn xã hội của người tiền sử Neanderhal ở châu Âu, trước kỷ nguyên của con người hiện đại như chúng ta. Cuộc sống vật chất của người Neanderhal rất đơn giản, tuy rằng họ đã biết chế tạo công cụ và có ý thức xã hội cao. Các nhà khảo cổ ước lượng họ tồn tại được khoảng 10.000 năm, nhưng không đạt đến trình độ phát triển cao vì mọi nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống đã có sẵn trong thiên nhiên. Giả thuyết của nhiều nhà nhân chủng học về căn nguyên tuyệt chủng là do họ không thích ứng được với nạn thiếu hụt tài nguyên khi thời tiết, khí hậu thay đổi. Khả năng so sánh là động cơ căn bản cho mọi nguyên tắc lý luận của tri thức con người. Do đó, mâu thuẫn trong quan hệ người là hệ quả tất yếu từ tư duy của nhân loại.

Trong thiên nhiên tình trạng mất cân bằng là động lực thúc đẩy quá trình tuần hoàn của vạn vật để hướng đến trạng thái cân bằng. Khi đạt được thể thái cân bằng ở một nơi lại phát sinh tình trạng mất cân bằng ở nơi khác; cứ như vậy với thời gian làm môi trường ở một nơi luôn thay đổi. Có tuần hoàn mới duy trì được sự sống, có thay đổi môi trường mới thúc đẩy được quá trình tiến hóa của muôn loài. Xã hội con người dường như cũng bị cùng một quy luật chi phối, phải có phân hóa giàu nghèo mới phát sinh được động lực phấn đấu, tạo nên sự thay đổi, nhằm hướng đến mức độ công bằng. Giống như trong tự nhiên, công bằng với người này sẽ phát sinh ra phân hóa đến người khác, cứ như vậy với thời gian sẽ làm thay đổi địa vị của con người trong xã hội. Con người có phấn đấu, xã hội mới phát triển; kết quả phấn đấu có thay đổi được địa vị cho họ, xã hội mới tiến triển.

Một trong những bài toán khó của ngành kinh tế học là tìm ra mối quan hệ tối ưu giữa khoảng cách phân hóa giàu nghèo, phương thức giải quyết, và khả năng cạnh tranh trong xã hội.
- Chủ nghĩa cộng sản Marxist chủ trương loại bỏ phân hóa giàu nghèo bằng con đường đấu tranh giai cấp. Thực tế từ cuộc thí nghiệm xã hội chủ nghĩa toàn cầu đã cho thấy, kết quả làm triệt tiêu khả năng cạnh tranh trong xã hội.
- Nho giáo Khổng Mạnh tìm cách hạn chế phân hóa giàu nghèo bằng mẫu mực đạo đức quân tử. Minh chứng từ lịch sử phát triển của Trung Hoa và Việt Nam, kết quả làm suy yếu tiềm năng cạnh tranh trong xã hội, dẫn đến hậu quả là làm trì trệ sức phát triển trong suốt hơn 1000 năm.
- Các nước châu Mỹ Latin, Tây Âu và Mỹ không chủ động giảm thiểu phân hóa giàu nghèo bằng các biện pháp tích cực. Kết quả thịnh vượng xã hội lại trái ngược nhau, các nước châu Mỹ Latin có khả năng cạnh tranh kém, trình độ phát triển thấp, nghèo nàn, lạc hậu; trong khi đó, các nước Tây Âu, Mỹ đạt năng lực cạnh tranh mạnh, trình độ phát triển cao, giàu có, tân tiến.
- Chế độ chiếm hữu nô lệ duy trì phân hóa giàu nghèo ở mức tối đa bằng phương tiện bạo lực. Kết quả làm triệt tiêu khả năng cạnh tranh trong xã hội. Lịch sử đã chứng minh, chế độ chiếm hữu nô lệ không tồn tại được lâu dài và đã bị tiêu vong trong thế giới văn minh.

Phân hóa giàu nghèo càng lớn, phương thức giải quyết càng khó khăn, mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế sẽ càng thêm gay gắt. Xã hội thời chiếm hữu nô lệ là đại diện của thái cực phân hóa cao nhất và cách giải quyết khó nhất. Xã hội của người Neanderhal là đại diện cho thái cực ngược lại, khi không còn sự phân hóa và không cần đến giải pháp giải quyết. Xã hội muốn phát triển, kinh tế được phồn thịnh, giữa mọi người phải tồn tại mâu thuẫn. Con người phải luôn tìm kiếm giải pháp để giải quyết hết mâu thuẫn này đến mâu thuẫn khác do phân hóa giàu nghèo gây nên. Ở một mức độ nhất định về khoảng cách phân hóa và kết quả thỏa đáng trong các giải pháp, xã hội sẽ đạt được sức phát triển kinh tế tối ưu hoặc/và duy trì được thành quả thịnh vượng lâu bền nhất. Trong mỗi xã hội, từng thời kỳ phát triển sẽ đòi hỏi mức độ phân hóa giàu nghèo hợp lý, kèm theo phương thức giải quyết riêng biệt. Ở vào hai thái cực là phân hóa tối đa và phân hóa triệt tiêu, nền kinh tế đều không còn sức phát triển và xã hội không thể mở mang được thành quả phồn thịnh. Tại hai thái cực này, với thời gian, trật tự cũ trong xã hội sẽ phải bị tan rã, và thể chế xã hội hoặc toàn thể xã hội sẽ phải cam chịu cảnh tiêu vong.

2. Bản chất của mâu thuẫn:
Con người sinh ra không bao giờ bình đẳng với nhau trong mọi phương diện. Dù được bình đẳng trong quan hệ kinh tế, mọi người vẫn không bao giờ bình đẳng được với nhau về quyền lợi vật chất. Có thể ví mâu thuẫn giữa mọi người là nguồn năng lượng phát sinh do bất công trong quan hệ kinh tế. Bản chất của mâu thuẫn, bao gồm nguyên nhân và đặc tính, là yếu tố quyết định sức mạnh tiềm lực năng lượng tích lũy trong xã hội.

2.1) Bản chất áp bức:
Mâu thuẫn do sở hữu chịu ảnh hưởng từ yếu tố “chủ lực” thịnh vượng, đã được học thuyết Marxist nghiên cứu cặn kẽ nhất. Quyền tư hữu hoặc chiếm hữu phương tiện sản xuất và tài nguyên sử dụng là nguyên nhân chính gây nên mâu thuẫn. Mâu thuẫn này xuất phát từ quan hệ kinh tế, được duy trì và thay đổi bản chất thông qua quyền lực từ quan hệ chính trị. Tuân theo tiền đề của học thuyết Malthus, con người ngày một đông, lại tăng trưởng theo cấp số nhân, trong khi đó, tài nguyên đang sử dụng ngày một hiếm, chỉ gia tăng theo cấp số cộng, do đó mâu thuẫn sở hữu sẽ ngày một thêm gay gắt. Đặc tính của mâu thuẫn này luôn gắn liền với các hệ quả do quy luật bù trừ chi phối, đó là phải có kẻ thắng người thua rõ ràng. Kẻ thắng muốn bảo toàn địa vị trong tương lai, phải luôn dùng đến quyền lực và tài lực để áp bức người thua cuộc.

Nếu không có quyền lực chính trị bảo đảm, tài lực của kẻ thắng không thể nào áp bức được người thua. Xã hội không có quyền lực chính trị, quyền sở hữu sẽ không còn hiệu lực; vì thế, sức mạnh tài lực hoàn toàn không còn có ý nghĩa và quyền năng tương xứng. Nền kinh tế chỉ giới hạn ở mức độ sơ khai. Mâu thuẫn phát sinh luôn có bản chất cướp đoạt.

Quyền lực chính trị càng tuyệt đối, mối tương quan giữa quyền lực chính trị và quyền lợi kinh tế càng gắn liền mật thiết với nhau. Quyền lực chính trị sẽ mang lại quyền lợi kinh tế, quyền lợi kinh tế phải dùng để củng cố và duy trì quyền lực chính trị. Bất kỳ nỗ lực đi tìm kiếm lợi ích cộng hưởng, làm phát sinh quyền lợi kinh tế vượt ngoài tầm kiểm soát của quyền lực chính trị, đều là nguy cơ đe dọa đến sức mạnh của quyền lực chính trị. Do đó, quyền sở hữu phải phục vụ tuyệt đối quyền lực chính trị, thay vì hỗ trợ đắc lực cho quyền lợi kinh tế. Nếu dùng quyền lực ngụy biện được hợp lẽ được cho mục đích sử dụng quyền sở hữu, mâu thuẫn phát sinh tuy có hình thức cướp đoạt, song mang bản chất áp bức.

Đây là mối mâu thuẫn từ giai cấp gây lên cá nhân và đa số người. Càng lạm dụng quyền lực chính trị, mâu thuẫn phát sinh càng bị dồn nén. Với thời gian, năng lượng tích lũy sẽ phải bùng nổ, thường kéo theo bạo động trong xã hội để phân định lại vị trí hơn thua. Mâu thuẫn sở hữu luôn là nguy hại tiềm ẩn đến thành quả thịnh vượng của xã hội. Đó là mối mâu thuẫn trực tiếp châm ngòi bạo động trong xã hội.

Học thuyết của Marx đã sai lầm khi tìm cách giải quyết mâu thuẫn sở hữu bằng quan hệ chính trị, thông qua trung gian quyền lực chính trị tuyệt đối.

2.2) Bản chất bốc lột:
Mâu thuẫn do thị trường chịu ảnh hưởng từ yếu tố “ngoại lực” thịnh vượng, cũng đã được học thuyết Marxist dầy công nghiên cứu. Phương tiện trao đổi bất hợp lý trong quan hệ kinh tế là nguyên nhân chính gây nên mâu thuẫn. Mâu thuẫn này xuất phát từ quan hệ kinh tế và được duy trì bằng quan hệ chính trị. Đặc tính của mâu thuẫn này luôn gắn liền với hệ quả từ các vấn đề bất hợp lý trong quá trình trao đổi, phát sinh do sai biệt quá lớn giữa “giá trị gia tăng” tạo thành và “giá trị thặng dư” nhận được. Những người được lợi thế trong quá trình trao đổi, luôn thủ lợi từ giá trị thặng dư lớn trong kết quả sai biệt, bốc lột thành quả lao động của nhiều người bị thua thiệt.

Nếu không bị quyền lực chính trị chi phối, điều kiện trao đổi luôn có tính chất tự nguyện. Tuy nhiên, thông tin và thủ tục trao đổi không còn đáng tin cậy. Dưới điều kiện trao đổi tự nguyện, mọi người không bao giờ chấp nhận giá trị quá sai biệt quá lớn giữa công sức bỏ ra với lợi nhuận thu được. Bởi không bị ràng buộc trách nhiệm lúc gian lận cũng như được bảo đảm quyền lợi khi trung thực, mọi người sẽ luôn che giấu thông tin, tìm cách lừa bịp nhau, nhằm thu lại “giá trị thặng dư” cao nhất khi trao đổi, bằng “giá trị gia tăng” thấp nhất. Do đó trì trệ kinh tế sẽ là hệ quả tất yếu. Mâu thuẫn phát sinh không còn mang bản chất bốc lột, mà trở thành lường gạt.

Quyền lực chính trị càng tuyệt đối, điều kiện trao đổi càng thuận lợi cho giai cấp nắm giữ hoặc tranh thủ được quyền lực. Thông tin và thủ tục trao đổi luôn ưu tiên phục vụ quyền lợi kinh tế của giai cấp đó. Mọi người không có quyền và phương tiện phản đối nghịch lý về giá trị sai biệt quá lớn giữa “lợi nhuận tuyệt đối” tạo ra và “lợi nhuận tương đối” đạt được. Nếu nhờ quyền lực chính trị mà thông tin và thủ tục trao đổi biện minh được đắc lực cho nghịch lý trong điều kiện trao đổi, mâu thuẫn phát sinh tuy mang vẻ lường gạt, nhưng thực chất là bốc lột.

Đây là mối mâu thuẫn từ cá nhân hoặc thiểu số người gây lên giai cấp. Nếu đa số người bị bốc lột không tìm ra được giải pháp thỏa đáng về kinh tế, mâu thuẫn sẽ càng bị dồn nén. Mâu thuẫn thị trường luôn gây nguy hại đến sự thịnh vượng của xã hội. Đây cũng là mâu thuẫn có khả năng trực tiếp châm ngòi bạo động trong xã hội.

Tương tự như mâu thuẫn sở hữu, học thuyết của Marx đã sai lầm khi tìm cách giải quyết mâu thuẫn này qua trung gian quyền lực chính trị tuyệt đối.

2.3) Bản chất cưỡng chế:
Mâu thuẫn do cơ chế chịu ảnh hưởng từ yếu tố “cơ lực” thịnh vượng, đã được nhiều học thuyết kinh tế bỏ công nghiên cứu nhất. Dùng quyền lực chính trị để chi phối cơ cấu tổ chức trong quan hệ kinh tế là nguyên nhân chính gây nên mâu thuẫn. Mâu thuẫn này do quan hệ thuần túy chính trị gây nên. Đặc tính của mâu thuẫn này luôn gắn liền với hệ quả do những nghịch lý từ khúc mắc, đến vướng mắc, đến tắc mắc trong cơ chế điều phối cơ lực thịnh vượng. Cơ chế điều phối càng thông thoáng, mọi người không bị nghịch lý cơ chế ảnh hưởng, mâu thuẫn càng có bản chất ganh đua. Cơ chế điều hành càng phạm phải nhiều vướng mắc, thành phần lợi thế càng cưỡng chế thành công đa số bất lợi để đoạt lấy quyền lợi kinh tế.

Học thuyết kinh tế cổ điển cực đoan chủ trương chỉ dùng quyền lực chính trị để bảo đảm quyền tư hữu và hạn chế tối đa mức can thiệp vào cơ chế kinh tế. Kết quả thường phát sinh khủng hoảng kinh tế vì sự mất cân đối trong cung và cầu. Mâu thuẫn phát sinh nếu không có bản chất áp bức, bốc lột, thì luôn có tính chất đối nghịch giữa chủ tư bản và người làm công. Do không có sự công bằng trong phương tiện trao đổi, hoạt động kinh tế luôn mang đặc tính mạnh được yếu thua, bất kể giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” đạt được. Hoạt động kinh tế thường bị chu kỳ khủng hoảng kinh tế đe dọa.

Học thuyết kinh tế xã hội chủ nghĩa chủ trương dùng quyền lực chính trị để can thiệp tối đa vào cơ chế kinh tế. Kết quả thường phát sinh thêm nhiều nghịch lý do tính thiên vị, đãi ngộ, dung túng trong chính sách, cũng như khả năng lũng đoạn, lạm quyền, tham nhũng trong cơ chế. Mâu thuẫn phát sinh luôn có bản chất cưỡng chế. Hoạt động kinh tế luôn phải đối phó với mọi bất cập trong cơ chế, thay vì tập trung vào đáp ứng cho những nhu cầu thiết yếu; do đó, nền kinh tế luôn bị trì trệ.

Học thuyết kinh tế theo đường lối trung dung tiêu biểu là của nhà kinh tế người Anh, ông John Keynes. Học thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa các đại lượng đo lường được trong nền kinh tế, nhằm xác định mức độ can thiệp của quyền lực chính trị vào cơ chế kinh tế. Kết quả tùy thuộc vào điều kiện thực của nền kinh tế có phù hợp với các tiền đề từ giả thuyết đã nêu ra trong học thuyết. Với điều kiện thích hợp, nền kinh tế sẽ đạt mức tăng trưởng mạnh trong thời gian ngắn, trước khi vấp phải các vướng mắc mới trong cơ chế điều hợp. Mâu thuẫn phát sinh thường do nỗ lực chế tài gây nên, mang bản chất kìm chế. Dưới ảnh hưởng của cơ chế điều phối, hoạt động kinh tế thường dồn tài nguyên hơn mức cần thiết để gia tăng các nguồn “lợi nhuận tương đối” đang được ưu tiên phát triển; lấy mất đi tài lực có thể dùng để tìm kiếm hoặc làm nâng cao giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”.

Ngoài bản chất kìm chế, mâu thuẫn cơ chế luôn ảnh hưởng đến khả năng thịnh vượng của xã hội. Đây là mối mâu thuẫn giữa xã hội đối nghịch với giai cấp. Sở dĩ bao gồm xã hội là vì trong nội bộ giai cấp đang cầm quyền bao giờ cũng phát sinh mâu thuẫn đối lập với cơ chế hiện hành; tuy không đối nghịch như những giai cấp khác. Sai lầm của Marx là chủ trương bãi bỏ mọi giai cấp để giải quyết mâu thuẫn này. Nếu xã hội không còn giai cấp, mâu thuẫn nội bộ sẽ trở thành đối nghịch, luôn phát sinh giai cấp mới. Chừng nào giữa mọi người còn tồn tại mâu thuẫu, chừng đó trong xã hội còn xuất hiện phân chia giai cấp.

2.4) Bản chất lấn áp:
Mâu thuẫn do “nhân hệ” chịu ảnh hưởng từ yếu tố “nhân lực” thịnh vượng. Đối tượng được phục vụ trong quan hệ kinh tế là nguyên nhân chính gây nên mâu thuẫn. Mâu thuẫn này xuất phát từ quan hệ đạo đức và chính trị. Quan hệ đạo đức ở đây là những mẫu mực về nhân cách, xuất phát từ nền văn hóa trong xã hội. Con người sinh ra không chỉ tìm kiếm quyền lợi riêng, mà thường chăm lo đến lợi ích của những người thân thuộc hoặc thân quen nữa. Đặc tính của mâu thuẫn này luôn gắn liền với hệ quả từ nghịch lý xã hội, đó là khả năng thành đạt của một người phụ thuộc vào yếu tố “nhân hệ” nhiều hơn là do ở tài năng. “Nhân hệ” là mối liên hệ cá nhân đối với những những người khác trong quan hệ chính trị và kinh tế.

Nếu không bị quyền lực chính trị chi phối, nhân hệ của con người càng thân thiết, họ càng gặp nhiều thuận lợi trong quan hệ kinh tế. Ngoài tài năng chuyên môn, những người muốn thành công phải rèn luyện kỹ năng để xây dựng mối nhân hệ mật thiết cho bản thân họ. Mâu thuẫn phát sinh giữa cá nhân với những người khác trong xã hội là ở khả năng lấn áp, nhờ vào lợi thế thân thuộc hoặc thân quen.

Quyền lực chính trị càng tuyệt đối, nhân hệ của con người càng thân thiết, thế lực càng vững chắc, họ càng có nhiều lợi thế trong quan hệ kinh tế. Dù kém xa về tài năng, thiểu số người có nhân hệ mạnh có thể là đối tượng ưu tiên được phục vụ, đóng góp ít, thu lợi nhuận cao; trong khi đó đa số người tài giỏi, phải bỏ công sức đóng góp nhiều, thu về lợi nhuận ít hơn. Mâu thuẫn phát sinh luôn có tính chất lấn áp bằng quyền lực ảnh hưởng.

Đây là mối mâu thuẫn giữa cá nhân đối nghịch với xã hội. Tùy thuộc vào giải pháp mà năng lượng có bị dồn nén, hoặc trở nên hữu ích. Lạm dụng quyền lực để bảo vệ nhân hệ, kết quả mâu thuẫn thường đe dọa thành quả thịnh vượng của xã hội, bởi vì nguy cơ làm lũng đoạn quyền lực xã hội.

2.5) Bản chất giai cấp:
Mâu thuẫn do giai cấp chịu ảnh hưởng từ yếu tố “viễn lực” thịnh vượng. Nỗ lực dùng tài lực kinh tế để bảo vệ và duy trì thành quả thịnh vượng trong tương lai là nguyên nhân chính gây nên mâu thuẫn. Mâu thuẫn này xuất phát từ ba mối quan hệ là kinh tế, chính trị và đạo đức. Quan hệ đạo đức ở đây là những hành động tự nhiên, xuất phát từ bản năng chăm lo, săn sóc của thế hệ trước dành cho thế hệ sau. Những người đã thành đạt đều muốn con cái mình thành công và dùng mọi phương tiện để giữ nguyên địa vị đó cho những thế hệ mai sau. Những người chưa thành công đều muốn tạo điều kiện thuận lợi để con cái họ chiếm giữ được địa vị cao hơn. Đặc tính của mâu thuẫn này luôn gắn liền với hệ quả từ khả năng con người có thay đổi được giai cấp và địa vị của chính họ trong xã hội.

Nếu không bị quyền lực chính trị chi phối, con người sẽ không thể nào bảo đảm được khả năng kế thừa về giai cấp và địa vị xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong xã hội có tự do kinh tế, vấn đề bảo tồn giai cấp và địa vị xã hội bằng cách duy trì truyền thống kinh tế gia đình là điều rất khó, vì thường hay bị quy luật bù trừ chi phối. Thịnh vượng thừa kế chỉ mang lại kết quả thịnh vượng, nếu thế hệ kế thừa biết kinh doanh và có trình độ trí thức lao động theo kịp với đà phát triển của thời đại. Nhân hệ thừa kế trong quan hệ kinh tế chỉ phát huy được lợi thế, khi các thế hệ kế thừa không bị quy luật bù trừ chi phối, buộc phải cạnh tranh lẫn nhau. Do đó, mâu thuẫn phát sinh chỉ có bản chất lấn áp trong ngắn hạn, và ganh đua ở dài hạn.

Quyền lực chính trị càng tuyệt đối, khả năng kế thừa của giai cấp và địa vị càng có tính cố định, gắn liền với quyền lực chính trị. Nhân hệ thừa kế trong quan hệ chính trị luôn phát huy được lợi thế cho các thế hệ kế thừa, vì đó là mối quan hệ tương quan, tương trợ, và tương hỗ để đạt được quyền lực cộng hưởng. Quyền lực chính trị thừa kế thường duy trì được quyền lực, nếu các thế hệ thừa hưởng biết bảo toàn và củng cố mối nhân hệ đã được các thế hệ trước xây dựng. Do đó, mâu thuẫn phát sinh luôn có bản chất giai cấp.

Đây là mối mâu thuẫn giữa giai cấp đối nghịch với giai cấp. Con người sinh ra đều muốn vươn lên trên nấc thang xã hội, đạt được giai cấp và địa vị cao hơn. Con người có phấn đấu, xã hội mới phát triển; kết quả phấn đấu có thay đổi được giai cấp và địa vị, xã hội mới tiến triển. Mâu thuẫn giai cấp sẽ ngày một căng thẳng nếu những người tài không có cách thay đổi được giai cấp. Nếu dùng quan hệ đạo đức để tạo nên trật tự xã hội, thuyết phục thành công đa số người trong xã hội an phận với địa vị của họ, mẫu thuẫn sẽ kém gay gắt, nhưng vẫn luôn tồn tại. Xã hội nào mà đa số dân chấp nhận trật tự giai cấp, xã hội đó kìm hãm được mâu thuẫn giai cấp bằng quan hệ đạo đức.

Mâu thuẫn giai cấp, nếu không trở thành bản chất lấn áp hoặc ganh đua, luôn là mối nguy hại cho sự thịnh vượng của xã hội. Mâu thuẫn này không tự biến đi mà luôn tích lũy và bị dồn nén. Mâu thuẫn này không trực tiếp châm ngòi bạo động xã hội, để phân định lại giai cấp, mà lại cung cấp nguồn năng lượng đáng kể khi xảy ra bạo động.

2.6) Bản chất ganh đua:
Mâu thuẫn do trí thức chịu ảnh hưởng từ yếu tố “thực lực” thịnh vượng. Trình độ khác biệt nhau về trí thức lao động là nguyên nhân chính gây nên mâu thuẫn. Mâu thuẫn này xuất phát từ quan hệ kinh tế thuần túy. Mâu thuẫn phát sinh thường là do khoảng cách biệt nhỏ trong tài năng giữa hai người ganh đua với nhau. Cách biệt lớn trong tài năng thường không phát sinh mâu thuẫn; nếu có, bản chất mâu thuẫn là sự ganh ghét. Đặc tính của mâu thuẫn này luôn gắn liền với hệ quả tranh đua giữa các cá nhân với nhau trong bước đường thăng tiến.

Tài năng cá nhân quyết định trình độ trí thức lao động của người đó. Trong xã hội có được tự do kinh tế, đây là yếu tố quan trọng quyết định kết quả thành đạt của cá nhân. Nhờ có tính ganh đua mà nhiều người mới nỗ lực phấn đấu để nâng cao trình độ trí thức lao động cho chính bản thân. Đồng thời, vì có lòng ganh ghét mà có người dùng mọi cách để kìm hãm quá trình vươn lên của nhiều người khác.

Đây là mối mâu thuẫn giữa cá nhân đối nghịch với cá nhân. Mâu thuẫn trí thức đóng góp đáng kể vào nguồn năng lượng vận hành thực lực thịnh vượng.

2.7) Bản chất ganh tị:
Mâu thuẫn do nội tâm chịu ảnh hưởng từ “nội lực” thịnh vượng, là mâu thuẫn do áp lực xã hội gây nên. Mâu thuẫn này xuất phát từ quan hệ đạo đức thuần túy. Quan hệ đạo đức ở đây không phải là mẫu mực nhân cách để cá nhân xử thế với xã hội; mà là khuôn mẫu sống của xã hội áp đặt lên cá nhân. Áp lực xã hội đòi hỏi mỗi người phải cần được thành quả nhất định về kinh tế, phải hưởng được tối thiểu tiện nghi, tiện lợi trong nhu cầu sống, vốn luôn thay đổi tùy theo sức mạnh của nội lực thịnh vượng. Mỗi người thuộc mỗi giai cấp phải chịu áp lực xã hội khác nhau. Áp lực thành đạt càng mạnh, mâu thuẫn nội tâm buộc phải cân bằng giữa chi phí và thu nhập ngày càng căng thẳng. Đặc tính của mâu thuẫn này luôn gắn liền với hệ quả do tính ganh tị gây nên, phải giữ gìn thể diện hoặc chấp nhận giới hạn; phải chạy theo trào lưu hoặc bằng lòng với những gì đang có.

Đây là mối mâu thuẫn do xã hội lên cá nhân và giữa cá nhân đối nghịch với bản thân. Mâu thuẫn này đóng góp đáng kể vào nguồn năng lượng vận hành nội lực thịnh vượng. Nếu phát huy đến mức tối đa, xã hội sẽ giàu về cuộc sống vật chất, nhưng nghèo về đời sống tinh thần. Nếu bị đè nén đến mức tối thiểu, xã hội sẽ vừa nghèo về vật chất lẫn tinh thần.

II. Phương thức giải quyết của xã hội ta xưa nay:

Nếu mâu thuẫn ví như là nguồn năng lượng tạo ra do bất công trong quan hệ kinh tế, phương thức giải quyết là cơ chế làm tận dụng hiệu quả nguồn năng lượng đó.
- Phương thức giải quyết càng tìm cách hạn chế, hoặc triệt tiêu mâu thuẫn, kết quả luôn làm suy yếu tiềm năng cạnh tranh trong xã hội và làm mất dần đi thành quả thịnh vượng của xã hội.
- Phương thức giải quyết càng dùng quyền lực làm dồn nén mâu thuẫn, kết quả luôn làm suy yếu khả năng cạnh tranh trong xã hội và dẫn đến bạo động để giải tỏa áp lực dồn nén, thường tàn phá nhiều thành quả thịnh vượng của xã hội.
- Phương thức giải quyết càng dùng mâu thuẫn để giải quyết mâu thuẫn cũ, phát sinh mâu thuẫn mới, khởi đầu lại chu kỳ một cách bất bạo động, kết quả luôn gia tăng năng lực cạnh tranh trong xã hội và nâng cao thành quả thịnh vượng cho xã hội.

Phần này chỉ khảo sát các giải pháp tiêu biểu trong xã hội ta xưa nay. Nguyên tắc của các giải pháp lý tưởng cho xã hội ta sẽ được bàn thảo trong mục III (“Nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn”).

Giải pháp truyền thống trong xã hội ta xưa nay là dùng quan hệ đạo đức để hạn chế quyền lực trong quan hệ chính trị. Trong thời phong kiến, mẫu mực đạo đức nho giáo từ học thuyết Khổng Mạnh là biện pháp chế tài quyền lực chính trị. Ngày nay, học thuyết cộng sản Marxist cũng đề ra những mực thước đạo đức về “cần kiệm, chí công, vô tư” tương tự cho giới cầm quyền tuân theo. Hình tượng một minh quân hay lãnh tụ cộng sản với lối sống đơn giản, mẫu mực luôn được phô trương để mọi người tin tưởng vào bản chất liêm chính của giai cấp cầm quyền, nhằm biện minh cho quyền lực tuyệt đối của thiểu số lãnh đạo. Trong xã hội hoài tưởng, guồng máy chính quyền được những vị thánh điều hành, mọi mâu thuẫn trong xã hội sẽ luôn được giải quyết hợp thời, hợp tình, và hợp lý. Xã hội thật do người thật điều hành, với bản tính tự nhiên là tham lam, lạm quyền, và cậy thế, quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến mâu thuẫn tuyệt đỉnh, phóng trích từ nhận xét của nhà sử học người Anh, ông Lord Acton.

Mâu thuẫn tồn tại và trở nên gay gắt đến tuyệt đỉnh là vì con người không thể tự giác, tự nguyện giới hạn lợi thế cá nhân để tranh thủ tư lợi. Dùng quan hệ đạo đức để chế tài quyền lực chính trị, guồng máy chính quyền nước ta luôn cần đến những con người vừa có tài, vừa có đức điều hành. Với mâu thuẫn nội tâm phát sinh từ hành động cố tình vi phạm đạo đức vì nhu cầu kinh tế và áp lực phải tuân thủ đạo đức vì nhu cầu chính trị, xã hội ta thường chứa đựng nhiều giá trị giả dối và sản sinh ra nhiều con người mang đạo đức giả.

Giải pháp dùng quan hệ đạo đức để tự hạn chế quyền lực trong quan hệ chính trị đã không giải quyết được các mâu thuẫn cũ, mà còn phát sinh thêm nhiều nghịch lý và mâu thuẫn mới. Do đó, quá trình phát triển của xã hội ta đã bị chu kỳ “thịnh suy” chi phối thể hiện qua chiều dài thời gian của các triều đại phong kiến. Hệ quả là xã hội ta thường mất đi thành quả thịnh vượng, bởi vì người thắng thường hay chối bỏ hoặc tàn phá thành quả của kẻ bại. Với thời gian, kẻ thắng luôn phải xây dựng lại từ đầu, để rồi cũng lần theo vết xe đổ của người thua cuộc.

Khởi đầu giai đoạn “thịnh”, chính quyền mới với hình tượng minh quân sáng lập, luôn sống theo tiêu chuẩn đạo đức mẫu mực, tuy tưởng rằng hết lòng cho dân cho nước, song lại làm suy yếu tiềm năng cạnh tranh trong xã hội. Giai đoạn cường thịnh của các triều đại phong kiến thường khó kéo dài hơn một thế hệ lãnh đạo. Với thời gian, mâu thuẫn nội tâm trong giai cấp cầm quyền sẽ càng trở nên gay gắt. Giải quyết mâu thuẫn này buộc phải lạm dụng quyền lực, do đó luôn phát sinh những mâu thuẫn mới, có bản chất áp bức, bốc lột, lấp áp, cưỡng chế, và giai cấp. Dấu hiệu khởi đầu cho giai đoạn “suy” là trong xã hội, người có tài sẽ tìm kiếm mặt nạ đạo đức giả, và người có đức sẽ được gán cho tài năng giả; người có tài lẫn đức chỉ là huyền thoại luôn được tuyên truyền.

1. Mâu thuẫn nội tâm:
Đạo đức cá nhân là nền móng cho toàn bộ giải pháp được thể hiện qua mỹ từ “đức trị”. Xã hội pháp trị không cần đến những con người có “đức”; tương tự, xã hội đức trị không cần đến những con người biết đến “pháp” luật. Đó là phép tắc của xã hội ta xưa nay, tiêu chuẩn đạo đức sẽ đứng ngoài và đứng trên pháp luật, nếu những người phạm pháp biết cách tranh thủ thế “hợp tình” để biện minh thỏa đáng cho hành động bất hợp lý.

Nghịch lý trong lý thuyết của giải pháp này là tiêu chuẩn đạo đức kép đối nghịch nhau. Mẫu mực nhân cách để cá nhân xử thế với xã hội buộc người đó phải sống cuộc sống thanh bần, “lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của quần chúng”. Khuôn mẫu sống của xã hội áp đặt lên cá nhân buộc người đó phải lo toàn chu đáo cuộc sống vật chất không những cho gia đình, mà còn của toàn dòng họ nữa. “Một người làm quan, cả họ được nhờ” là áp lực xã hội của xã hội ta lên cá nhân người cầm quyền hành trong guồng máy chính quyền.

Đây là mâu thuẫn giữa cá nhân với bản thân. Tiêu chuẩn nhân cách trong xã hội ta buộc con người phải có trách nhiệm với người thân, dòng họ. Một quan viên cô độc có thể tự nguyện sống thanh liêm, giữ gìn sĩ tiết nho giáo thời xưa, đạo đức cộng sản thời nay. Khi phải chăm lo đến an sinh cho cả gia đình, thanh danh cá nhân không thể nào mang lại lợi ích kinh tế cần thiết cho toàn gia đình.

Đây là mâu thuẫn do xã hội lên cá nhân. Nếu giai cấp cầm quyền ai cũng sống trong sạch, không ai muốn là người đầu tiên bị tha hóa. Khi trở thành trào lưu, ai cũng sống tha hóa, không ai muốn có người lập dị, còn trong sạch đứng ở ngoài hệ thống. Miệng phải nói lời đạo đức để khỏa lấp cho bàn tay nhúng vào việc phi pháp. Tiêu chuẩn đạo đức riêng, sẽ biện minh thỏa đáng cho mọi hành động phi pháp mà toàn xã hội phải gánh chịu hậu quả chung.

Giải pháp dùng quan hệ đạo đức luôn tìm cách kìm hãm mâu thuẫn này bằng các khuôn mẫu nhân cách. Nếu thành công, những người có quyền lực bằng lòng sống thanh bần, hậu quả là trong xã hội sẽ khó xuất hiện các thành phần giàu có, dù là làm ăn lương thiện. Bản chất ganh tị và áp lực gia đình sẽ không bao giờ cho phép những người tài giỏi giữ gìn đức độ, cam chịu cảnh nghèo khó trong khi có người không quyền lực bằng, lại trở nên sang giàu. Do đó, khi mâu thuẫn này bị đè nén đến mức tối thiểu, toàn xã hội sẽ nghèo về đời sống vật chất lẫn tinh thần.

Khi những người có quyền lực chọn con đường tha hóa, họ thường bị mâu thuẫn này chi phối đến mức tối đa. Khi đó họ và các thành phần biết tranh thủ quyền lực sẽ trở nên giàu có trong cuộc sống vật chất. Tuy nhiên, họ không thể vứt bỏ được mẫu mực đạo đức, cũng như yên ổn thụ hưởng được thành quả về vật chất. Do đó, với nhiều nghịch lý luôn tồn tại và phát sinh, toàn xã hội đều nghèo khổ về đời sống tinh thần.

2. Mâu thuẫn sở hữu:
Quyền sở hữu bằng danh nghĩa được quyền lực chính trị tuyệt đối bảo đảm, là giải pháp dùng quan hệ chính trị để giải quyết mâu thuẫn sở hữu trong xã hội ta xưa nay.
- Thời xưa, tất cả tài sản trong nước trên danh nghĩa, đều thuộc quyền sở hữu của dòng họ cai trị. Trong triều đình phong kiến, giới quan lại vốn luôn trung thành tuyệt đối với triều đại, được nhà vua giao phó cho đặc quyền quản lý nền kinh tế.
- Ngày nay, mọi nguồn tài nguyên quốc gia trên danh nghĩa, đều thuộc quyền sở hữu của nhân dân. Trong chính quyền vô sản, đảng viên Cộng Sản phải trung thành tuyệt đối với đảng Cộng Sản, tự nhận làm đại diện cho nhân dân và tự chỉ định đặc quyền quản lý nền kinh tế.

Đạo đức cá nhân bằng mẫu người quân tử hay quan lại thanh liêm thời xưa, hoặc người cộng sản hay cán bộ liêm chính đời nay, đều là các giải pháp bằng quan hệ đạo đức nhằm hạn chế mâu thuẫn sở hữu trong xã hội do giới cầm quyền lạm dụng quyền lực gây nên.

Với quyền sơ hữu bằng danh nghĩa, chính quyền nước ta xưa nay đã chuyển đổi thành công mâu thuẫn giữa giai cấp lên cá nhân hoặc toàn dân, trở thành bản chất của mâu thuẫn giữa danh nghĩa với cá nhân và toàn dân. Quyền sở hữu bằng danh nghĩa, vốn được quyền lực chính trị tuyệt đối bảo đảm, là công cụ chính trị đắc lực nhất để người dân phải chấp nhận mọi nghịch lý về quyền sở hữu, giảm thiểu được bản chấp áp bức của sự mâu thuẫn.

Thời bao cấp gần đây là một ngoại lệ, vì quyền tư hữu hoàn toàn bị cấm đoán. Xưa nay, quyền tư hữu trong xã hội ta được cho phép, nhưng không được bảo đảm. Không ai có thể tranh chấp nổi tài sản với thế lực mang danh nghĩa ra để chiếm đoạt quyền tư hữu. Vì lợi ích của dòng họ vua, cá nhân cần cống hiến lợi lộc tư; vì lợi ích của toàn dân, cá nhân phải biết hy sinh quyền lợi tư. Trong thời phong kiến, lạm dụng danh nghĩa nhà vua là việc làm tày trời, khó thoát tội “khi quân”. Thời nay, lợi dụng danh nghĩa nhân dân là công việc bình thường, đảng viên Cộng Sản nào có quyền lực cũng đều làm được mà vẫn phù hợp với luật pháp.

Ngày xưa, theo lời của ông Khổng Tử “thượng bất chính, hạ tất loạn”. Triều đình không kỷ cương, vua và quan to lạm dụng danh nghĩa để trục lợi, sẽ tạo điều kiện cho các quan nhỏ hơn lợi dụng cơ hội đục khoét của cải trong dân. Trong xã hội, mâu thuẫn phát sinh ra sẽ rất dễ phân biệt, đó là giữa triều đại thối nát và đa số dân chúng lầm than. Ngày nay, dù “thượng” có liêm chính, “hạ” vẫn cứ loạn, bởi vì ai có quyền lực chính trị cũng đều có thể lợi dụng danh nghĩa nhân dân để thủ lợi. Sau thời gian bị đạo đức cách mạng làm gò bó mâu thuẫn nội tâm, ngày nay quyền lực chính trị tuyệt đối trong đảng Cộng Sản vẫn không thể nào kìm hãm nổi tính hỗn loạn trong cỗ máy chính quyền nước ta. Sức mạnh của quyền lực chính trị là do quyền lợi kinh tế quyết định, chứ không phải bị mẫu mực đạo đức chi phối. Kẻ nào đi ngược với quyền lợi của đa số bánh răng trong cỗ máy đó, sẽ bị nghiền nát bằng chính danh nghĩa mà kẻ ấy muốn bảo tồn.

Trong xã hội ta hiện nay, người dân bình thường rất khó phân biệt được mâu thuẫn này. Thực chất họ biết đang bị áp bức, nhưng không xác định rõ được thành phần đang áp bức họ. Chiếm hữu đất của nông dân đem bán cho dân thành thị là vấn nạn lớn nhất hiện nay trong xã hội ta. Tuy nhiên, kết quả đã không phát sinh mâu thuẫn có tính gay gắt giữa nông dân bị mất đất một cách bất công với quan chức chính quyền thủ lợi bằng thủ đoạn bất chính. Chính quyền hiện nay đã thành công khi vừa trục lợi, vừa hoán chuyển được bản chất áp bức của mâu thuẫn này sang hình thức mới, không ảnh hưởng đến giai cấp họ. Đó là các mâu thuẫn mới giữa nông dân với dân thành thị; hoặc dân thành thị với doanh nghiệp; hoặc doanh nghiệp với công nhân; hoặc công nhân với toàn dân... Với hình thức che giấu trong xã hội ta, khi toàn dân hiểu được bản chất của mâu thuẫn và bộc phát bạo động, hậu quả rất khó ước tính được.

Giải pháp này luôn mang đến nhiều hệ lụy cho nền kinh tế vì:
- Không bảo đảm được tính hợp pháp trong quyền tư hữu. Phe phái tranh giành quyền lực chính trị đều có thể dùng danh nghĩa để tước đoạt quyền tư hữu của phe thua; hay triệt hạ tiềm lực kinh tế lẫn nhau.
- Không duy trì được tính công khai trong quyền tư hữu. Quyền tư hữu phải luôn nấp bóng dưới quyền sở hữu bằng danh nghĩa. Bề ngoài tuy là của công, nhưng luôn phục vụ lợi ích riêng tư.
- Không thi hành được tính công bằng trong quyền tư hữu. Xã hội nào dùng giải pháp này tuy vì danh nghĩa công bằng, song không bao giờ ý thức được lẽ công bằng.

Khi chính quyền giải quyết mâu thuẫn sở hữu bằng quyền sở hữu qua danh nghĩa, họ đã dùng quyền lực chính trị để quyết định thành phần được quyền sở hữu tài nguyên kinh tế thông qua danh nghĩa, theo tiêu chuẩn lựa chọn riêng, thay vì để thị trường quyết định, theo nguồn “lợi nhuận tương đối” và giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”. Tài nguyên kinh tế được phân bổ theo tiêu chuẩn này chỉ mang lại thành quả thịnh vượng cho thiểu số người và làm nền kinh tế càng thêm bị lệ thuộc.

3. Mâu thuẫn thị trường:
Thời phong kiến, hạn chế thương nghiệp là giải pháp làm giảm thiểu mâu thuẫn phát sinh từ quá trình trao đổi. Trong bốn đẳng cấp xã hội thời xưa là sĩ nông công thương, thương gia là đẳng cấp thấp nhất, bị xã hội coi khinh. Do không coi trọng thương nghiệp, nên những người sản xuất thường phải trực tiếp bày bán sản phẩm của mình ở tại thị trường địa phương, giảm thiểu mọi mâu thuẫn trong quá trình trao đổi. Vì vậy, thương gia là những người mang thặng dư từ nơi không cần đến nơi khác cần, hiếm khi đối nghịch về quyền lợi với dân địa phương. Các triều đại phong kiến nước ta xưa nay thường cấm ngặt dân thường tiêu thụ những đồ bị coi là xa xỉ, cốt hạn chế thông thương, nhằm ngăn ngừa mâu thuẫn trong xã hội vì nền kinh tế luôn quy luật bù trừ chi phối.

Thời xưa, mối mâu thuẫn này chỉ tồn tại trong nông nghiệp, vì có sự đối nghịch về quyền lợi giữa chủ đất và tá điền. Ở miền Bắc và miền Trung do không còn đất khai khẩn, nên mâu thuẫn này gay gắt hơn ở trong Nam. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chưa nẩy sinh ra mối mâu thuẫn này bởi vì chủ nhân cũng thường là nghệ nhân. Mâu thuẫn giữa chủ đất và tá điền tuy có bản chất bốc lột, của cá nhân lên giai cấp, song do ảnh hưởng của nho giáo, đó là mâu thuẫn giữa cá nhân lên cá nhân. Thời nào có được minh quân như đời Hồng Đức nhà Lê, cấm đoán quan viên lập trang trại ngay nơi mình làm quan, vấn đề phân xử tranh chấp về hoa lợi nhờ đó có phần thuận lợi cho giới tá điền hơn. Nếu dân quá khổ, triều đình ban ơn phát chẩn hoặc mang dân đi khai khẩn, đó là vài giải pháp tiêu biểu cho mâu thuẫn trong thị trường lao động của nước ta ngày xưa.

Giải pháp của đảng Cộng Sản bằng khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã đáp ứng được nguyện vọng ngàn đời của nông dân ta. Tuy nhiên, trong thời gian bao cấp, thay vào giai cấp địa chủ, là một chủ nhân duy nhất, do chính quyền đại diện. Giống như trong mâu thuẫn sở hữu, dù quyền lợi nhận được lẫn điều kiện làm việc có hà khắc hơn trước, nhưng người nông dân ta không tranh chấp được với quyền lực gây nên sự nghịch lý. “Có mà không, không mà có” là lẽ đó, vì họ là chủ ruộng đất, nhưng không hưởng được hoa lợi như người làm chủ. Đó là một trong những lý do chủ đạo làm chính sách hợp tác xã nông nghiệp hoàn toàn bị lụm bại.

Ngày nay, sau thời gian đổi mới, chính quyền hiện tại phân chia đều ruộng đất cho nông dân làm chủ, được đứng ngoài hợp tác xã nông nghiệp, chỉ còn có nghĩa vụ đóng thuế lương thực. Điều này thực sự mang lại quyền lợi từ quyền sở hữu đến cho họ. Nhờ đó mà sản lượng lương thực nước ta từ lúc thiếu hụt trầm trọng phải nhờ đến viện trợ trong thời bao cấp, nay đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới. Tuy nhiên điều này chỉ mang lại lợi ích ngắn hạn. Sau thời bao cấp, mọi người ai cũng hạnh phúc khi nhận được quyền sở hữu ruộng đất, dù là nhỏ so với đất đai sở hữu trước đây của gia đình họ. Với thời gian, theo quy luật kinh tế thị trường, nhiều người sẽ mất quyền sở hữu đất và người khác được thêm đất sở hữu. Con người không phải ai cũng biết cách quản lý hiệu quả đất đai của mình. Nếu nông dân ta phải khó nhọc lắm mới làm chủ được mảnh đất của mình, họ sẽ rất dè dặt khi cho đất nhiễm mặn, để chạy theo phong trào nuôi tôm do chính quyền khởi xướng. Hiện nay, hàng ngàn hecta đất đai phì nhiêu ở miền Nam và hầu hết vùng duyên hải miền Trung bị nhiễm mặn nặng, không nuôi thủy sản mà cũng không canh tác được. Thảm họa như vậy có thể mang lại cơ hội cho những người biết quản lý đất đai hiệu quả, trở thành chủ đất lớn, do đó làm xuất hiện lại giai cấp chủ đất và tá điền. Khi đó nếu chính quyền dùng quyền lực để tái phân chia quyền sở hữu, đó là sự bất công và làm nền nông nghiệp nước ta càng thêm lạc hậu. Nếu giới hạn quyền sở hữu, tài nguyên đất đai nông nghiệp sẽ không thể khai thác được hiệu quả. Chính sách nông nghiệp của chính quyền hiện nay chưa giải quyết được ổn thỏa mối mâu thuẫn tiềm ẩn này.

Hiện nay thị trường thu mua nông sản nước ta vẫn còn nhiều nghịch lý do bị quyền lực chính trị can thiệp. Nhà nước trợ giá chi phí cho nông dân, nhưng lại gián tiếp độc quyền thu mua hoa lợi. Tư thương không được trực tiếp thu mua nông sản với số lượng lớn, mà phải thông qua trung gian doanh nghiệp nhà nước. Đó là nguyên nhân của vòng nghèo khó lẩn quẩn của người nông dân, bị thu mua với giá rẻ, nên thặng dư của không đủ tái đầu tư cho vụ mùa tới, buộc phải lệ thuộc vào giá hỗ trợ của nhà nước. Thêm vào đó, chính sách kinh tế quốc doanh làm cản trở sức phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, nên nông dân không tìm được thị trường tiêu thụ mới. Chính quyền hiện nay luôn dùng danh nghĩa biện minh cho bất công, nên nông dân tuy bị thiệt hại, nhưng vẫn không biết oán trách ai. Thị trường thu mua nông sản nước ta hiện nay là hình thức bốc lột công sức lao động của nông dân bằng cách lợi dụng danh nghĩa. Nếu thị trường này có tính cạnh tranh cao, nông dân ta sẽ không bao giờ chịu bán nông sản với nhiều điều kiện bất lợi như hiện nay. Thêm vào đó, đối với giới tư thương, bảo đảm mức độ tin cậy và xây dựng uy tín lâu dài mới là vấn đề quan tâm thiết yếu, đạt được lợi nhuận tối đa chỉ là điều bận tâm thứ yếu.

Thời bao cấp, giá cả thị trường đều do chính quyền quyết định nhằm triệt tiêu mâu thuẫn trong quá trình trao đổi. Theo lý thuyết của Marx, trung ương hoạch định là biện pháp tốt nhất để xã hội loại bỏ nghịch lý khi đeo đuổi nguồn “lợi nhuận tương đối”, đánh giá đúng mức giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”. Tuy nhiên, thị trường dùng “giá trị thặng dư” để chọn lọc số lượng lớn sản phẩm có “giá trị gia tăng” cao, buộc nền kinh tế chỉ sản xuất những gì xã hội thật sự cần, bằng phương tiện hiệu quả nhất. Do đó, thị trường trao đổi luôn tồn tại nghịch lý, vì “giá trị thặng dư” của thiểu số người thắng, được thị trường chọn lọc, là kết quả thiệt thòi của đa số người thua. Đó là tính chất nghiệt ngã của thị trường, vì xã hội chỉ lựa chọn một trong hàng ngàn “giá trị gia tăng” do nhiều người đã bỏ công sức tạo nên. Đây là nguồn gốc của mâu thuẫn thị trường. Thời bao cấp tuy tìm cách xóa bỏ thị trường trao đổi, nhưng vẫn xuất hiện tình trạng chợ đen do nhu cầu của mọi người không giống nhau. Kết quả hoạch định phân phối hàng hóa từ trung ương không thể nào đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong xã hội. Nhiều mâu thuẫn mới đã xuất phát từ thị trường chợ đen, mà những người thiệt thòi nhất lại là giai cấp mà chủ nghĩa Marxist muốn bảo vệ quyền lợi.

Thị trường lao động nưóc ta hiện đang nẩy sinh ra nhiều mâu thuẫn giữa công nhân và giới chủ nhân. Doanh nghiệp quốc doanh không cần bảo đảm quyền lợi cho công nhân, mà luôn phải bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa cho nhà nước. Công nhân tự giải quyết bất công về quyền lợi bằng nhiều biện pháp tiêu cực khác nhau, trong đó cắt xén, lãng phí, “lấy chân ngoài nuôi chân trong” là vài hình thức phổi biến. Tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp tư nhân lớn, hoặc có vốn đầu tư nước ngoài không phải để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, mà lại trông chừng họ, chủ động dập tắt mọi mâu thuẫn nẩy sinh ngay từ lúc mới khởi điểm bằng biện pháp bạo lực. Ngoài ra, chính quyền cũng dùng danh nghĩa san bằng phân hóa giàu nghèo trong xã hội, chủ đích giữ thấp mức lương đáng ra phải cao hơn cho giới chuyên gia, lao động trí thức. Hậu quả là làm triệt tiêu nội lực thịnh vượng trong nước, không tạo được áp lực về thiếu hụt nhân lực trong thị trường lao động phổ thông. Tuy hoạt động đình công bị luật pháp hiện nay cấm đoán, thực tế đình công trong các khu chế xuất gần đây đã cho thấy mâu thuẫn đã đến lúc cần phải giải quyết. Đình công và chấp nhận yêu sách tăng lương chỉ là giải pháp mang tính cách giai đoạn.

Điều kiện và thủ tục trao đổi trong nền kinh tế nước ta hiện đang phát sinh thêm nhiều mâu thuẫn giữa doanh nghiệp tranh thủ được ưu thế luật pháp và doanh nghiệp phải tuân thủ mọi quy định pháp luật. Cách thức giải quyết là doanh nghiệp phải biết mua chuộc quyền lực chính trị, để giành lấy ưu thế trong quá trình trao đổi. Nếu doanh nghiệp muốn tồn tại, thay vì tìm cách gia tăng giá trị “lợi nhuận tuyệt đối” của sản phẩm hoặc dịch vụ; họ phải dành nhiều thời gian cầu cạnh quyền lực tuyệt đối của giai cấp cầm quyền. Lợi thế của các doanh nghiệp lớn không phải do thương trường quyết định, mà luôn được xác định ở trong chính trường. Do đó, khi thành phần chủ quản trong nền kinh tế nước ta không cần nắm bắt nhu cầu của xã hội và không phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng, nền kinh tế nước ta sẽ không thể nào có được khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Xã hội ta ngày nay chưa có giải pháp thỏa đáng cho mối mâu thuẫn này. Lợi thế của chính quyền hiện nay là nông dân không tìm được lối thoát cho sự bất công về quyền lợi của nghề nông, phải lên thành thị kiếm sống sau mùa thu hoạch. Điều này càng gia tăng áp lực nhân công thừa, nẩy sinh mâu thuẫn giữa công nhân với người lao động, làm suy yếu mâu thuẫn giữa công nhân với giới chủ nhân. Người nghèo càng xung đột với nhau, để tranh giành từng cơ hội kinh tế hiếm hoi, chính quyền, giới tư bản mới, và nhà đầu tư ngoại quốc càng được hưởng lợi. Tuy nhiên, đây là mối mâu thuẫn luôn trực tiếp châm ngòi bạo động trong xã hội. Nếu không giải quyết thỏa đáng, hậu quả cho nền kinh tế đất nước khi cần xây dựng lại, sẽ rất khó khắc phục.

4. Mâu thuẫn giai cấp:
“Con vua thì lại làm vua” là chân lý ngàn đời trong xã hội ta, vốn chịu ảnh hưởng nặng từ nho giáo. Nho giáo đòi hỏi giới sĩ phu hoặc quân tử phải có lòng trung thành tuyệt đối với triều đại mà họ đang phục vụ. Trong xã hội, mọi người phải chấp nhận trật tự giai cấp để giữ gìn trật tự kỷ cương. Đặc điểm của nho giáo là khi chấp nhận trật tự giai cấp xã hội, mọi người đều có cách tự chuyển hóa được mọi mâu thuẫn do giai cấp gây ra, kết quả là ai cũng có được khả năng áp chế lên người khác.
- Trong xã hội luôn có trật tự cấp bậc vai vế. Cao nhất là vua với quyền lực tuyệt đối, kế đến là giới quan lại, và bốn đẳng cấp sĩ nông công thương. Người có cấp bậc càng cao, càng được nhiều quyền lực và quyền lợi hơn so với thành phần thuộc giai cấp thấp.
- Trong gia đình cũng phân chia vai vế cấp bậc như xã hội. Người vai vế thấp phải nhượng bộ vô điều kiện trước những người có vai vế cao hơn.

Trong xã hội ta xưa nay, dù là thường dân thấp cổ bé miệng, không thể vươn lên trong nấc thang xã hội, họ vẫn luôn được bảo đảm vai vế cao trong gia đình. Nếu không có quyền gia trưởng trong gia tộc lớn, họ sẽ được quyền gia trưởng trong gia đình riêng lúc về già. Mẹ chồng hành hạ nàng dâu thường là cách để giải tỏa mâu thuẫn bị dồn nén lâu năm khi họ phải chịu đựng mọi nghĩa vụ phi lý trong thời gian dài làm dâu và làm vợ. Người cha áp đặt độc quyền lên con cái hoặc hành xử độc ác trong gia đình, là cách hiệu quả nhất để người đó giải tỏa mâu thuẫn do xã hội bên ngoài làm dồn nén. Xã hội nho giáo chọn cách giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong xã hội bằng cách đè nén và chờ đợi cơ hội để áp đặt lên thế hệ kế tiếp. Với chu kỳ như vậy, hiếm có gia đình Việt Nam nào lại có đời sống tinh thần an bình kéo dài được lâu.

Thời phong kiến còn tạo cơ hội để những người có tài, xuất thân từ giai cấp thấp có cơ hội vươn lên bằng các kỳ thi tuyển. Nếu không có cơ hội này, triều đình phong kiến sẽ không thể tồn tại được lâu do những “kẻ sĩ áo vải” sẽ nổi loạn như phong trào Tây Sơn đã chứng minh, để xây dựng sự nghiệp riêng. Phong trào phò Lê ở miền Bắc trong những năm từ triều vua Minh Mạng đến đời vua Tự Đức nhà Nguyễn không phải là sĩ phu Bắc Hà còn tiếc nuối nhà Lê, mà vì nhà Nguyễn đã không tin cậy và trọng dụng tài năng họ.

Ngày nay, xã hội ta vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh của nho giáo trong xã hội và gia đình. Ban đầu, đảng Cộng Sản chủ trương bãi bỏ giai cấp nhằm triệt tiêu mâu thuẫn giai cấp trong xã hội. Thực tế xã hội ta sau thời kỳ đổi mới đã phát sinh thêm nhiều giai cấp mới, trong đó quyền lợi của giai cấp luôn gắn liền với quyền lực chính trị. Sau hai mươi năm đổi mới, trong xã hội đang xuất hiện mâu thuẫn giữa các giai cấp với nhau. Doanh nhân và tiểu thương làm ăn chân chính luôn đối nghịch về quyền lợi kinh tế với giai cấp đảng viên Cộng Sản. Giải pháp của chính quyền hiện nay là cho phép vài người đó vào đảng Cộng Sản, ban cho họ vị trí thừa hành. Thành phần điều hành trong chính quyền vẫn là quyền lực thừa kế, cố gắng theo kiểu cha truyền con nối như thời xưa.

5. Mâu thuẫn nhân hệ:
Đây là mâu thuẫn tự nhiên trong xã hội loài người. Không xã hội nào tìm cách giải quyết mối mâu thuẫn này, đặc biệt là những xã hội chịu ảnh hưởng nặng từ nho giáo. “Nhất thân, nhì thế, tam chế, tứ tài” đã được đa số dân ta chấp thuận thành chân lý xã hội.

6. Mâu thuẫn cơ chế:
Duy trì quyền lực tuyệt đối luôn là trọng tâm hàng đầu của chính quyền nước ta xưa nay. Nếu bất cập trong cơ chế kinh tế bảo vệ đắc lực được quyền lực chính trị, chính quyền nước ta luôn giải quyết mối mâu thuẫn này bằng cách chuyển đổi bản chất cưỡng chế của mâu thuẫn do cơ chế, sang mâu thuẫn từ thị trường và mâu thuẫn bởi nhân hệ.

Nước ta thời phong kiến là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nên rất ít có sự đối nghịch do cơ chế kinh tế gây ra. Giải pháp làm giảm thiểu nhu cầu thông thương và chấp nhận lợi thế do nhân hệ đã làm suy yếu nhiều mâu thuẫn phát sinh do bất công trong cơ chế kinh tế. Chỉ có mâu thuẫn vì sưu cao thuế nặng phải dẫn đến bạo động tự phát trong dân, mới giải quyết được mâu thuẫn với tính cách giai đoạn. Nếu chính sách kinh tế quá hà khắc, gia nhập trộm cướp là giải pháp duy nhất cho nhiều lương dân trong xã hội ta hồi xưa.

Ngày nay, bất cập trong cơ chế kinh tế nước ta luôn là công cụ đắc lực để bảo vệ quyền lực chính trị. Quyền lực kinh tế không thể lớn mạnh, nếu không vi phạm quy định trong cơ chế. Năng lực kinh tế sẽ phải bị bòn rút đến mức phá sản, nếu tuân thủ triệt để mọi quy định trong cơ chế. Tài lực kinh tế không thể thay đổi tính bất hợp lý trong cơ chế, mà phải dùng để mua lấy sự đồng thuận của thành phần điều hành và thừa hành. Thế lực kinh tế không thể đứng độc lập, mà phải dựa hoàn toàn vào thế lực chính trị và dùng để củng cố quyền lực chính trị. Bằng biện pháp này, chính quyền hiện nay có được nhiều điểm lợi:
- Nắm vững được yếu điểm của doanh nghiệp. Khả năng tồn tại của doanh nghiệp luôn nằm trong tầm kiểm soát của chính quyền.
- Ngăn ngừa được nguy cơ hình thành quyền lực kinh tế mạnh và độc lập được với quyền lực chính trị.
- Có được phương tiện để nuôi bộ máy công quyền mà không phải gia tăng trách nhiệm thuế trong dân, vốn dễ phát sinh mâu thuẫn với dân nếu thuế suất quá cao.
- Hóa giải được phần nào mâu thuẫn do cơ chế gây nên, phát sinh mâu thuẫn giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, và doanh nghiệp với người tiêu dùng.

Mọi bất cập trong cơ chế kinh tế nước ta luôn có giải pháp tháo gỡ bằng nhiều hình thức khác nhau. Doanh nghiệp vì không thể đối đầu trực tiếp với quyền lực chính trị, phải lựa chọn lối thoát bằng cách chấp nhận nghịch lý và nguy hại khi phạm pháp. Vài hình thức tiêu cực, chấp nhận nghịch lý trong cơ chế là hối lộ quyền thế, gian lận hợp đồng, lừa dối đối tác, “rút ruột” công trình, hoặc né tránh trách nhiệm. Để đối phó với nguy hại vì buộc phải phạm pháp, doanh nghiệp thường hạn chế khuyếch trương sức mạnh, thu gọn trong phạm vi gia đình, hoặc tránh trở thành mục tiêu chú ý của quyền lực. Do không thể lập được kế hoạch kinh doanh dài hạn, họ luôn vơ vét lợi nhuận tối đa, bất kể hậu quả lâu dài cho xã hội. Trước những giải pháp đó, sự suy đồi tiêu chuẩn đạo đức và tinh thần trách nhiệm là hệ quả hẳn nhiên trong xã hội.

Trong xã hội ta ngày nay, ai cũng thấy được vấn nạn và bất công trong cơ chế, nhưng cá nhân đơn lẽ chỉ biết bất mãn, chứ không thể giải quyết được vấn đề. Khi chưa thống nhất thành một khối, người dân không thể thách thức được quyền lực chính trị, chỉ đơn lẻ trông mong vào sự thông thoáng trong cơ chế. Đây là nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa doanh nghiệp lẫn nhau, và người tiêu dùng với doanh nghiệp. Do không thay đổi được cơ chế, doanh nghiệp đối nghịch nhau không phải bằng phương tiện kinh tế, mà lại dùng đến biện pháp chính trị. Họ ít ưu đãi người có tài kinh doanh, mà ban nhiều quyền lợi cho những người có mối nhân hệ quyền lực thân thiết. Hậu quả là hiệu năng kinh doanh thấp, quyền lợi của người tiêu dùng luôn bị thiệt thòi. Bởi không ảnh hưởng được đến cơ chế, người dân ta luôn tìm cách làm trong sạch hóa môi trường chính trị. Càng ngày càng có nhiều người dân chấp nhận bị khủng bố tinh thần, mang sinh mạng ra đánh cuộc để tố cáo nạn tham nhũng, đó là dấu hiệu xã hội đang cần đến những giải pháp thỏa đáng và dứt khoát cho mâu thuẫn này.

7. Mâu thuẫn trí thức:
Xã hội với quyền lực chính trị tuyệt đối trong lịch sử là xã hội luôn vùi dập nhân tài khi không cần dùng đến. Tài năng của cá nhân chưa đạt được công danh, hoặc muốn thăng tiến, luôn là hiểm họa của quyền lực hiện hữu. “Được chim bẻ ná” là giải pháp cần thiết để bảo vệ tính tuyệt đối của quyền lực chính trị. Các triều đại khởi lập từ thời loạn lạc, nhờ sự trợ giúp của hào kiệt áo vải như thời nhà Lê, Nguyễn đều phải giết hại công thần để bảo toàn tính bền vững của triều đại. Kinh nghiệm của nhà Nguyễn Tây Sơn cho thấy, khi vua Cảnh Thịnh không có đủ quyền lực sai kiến công thần, các công thần sẽ tranh giành nhau quyền lực, dù rằng triều đại đang còn bị thế lực ngoài đe dọa. Công thần đạt được quyền lực bằng chính tài năng của mình, sẽ không bao giờ nhượng bộ, nếu hoàng đế mới chưa chứng tỏ được quyền uy tối thượng. Tiêu chuẩn tuyển chọn nhân tài trong xã hội với quyền lực chính trị tuyệt đối không dựa nhiều vào tài năng chuyên môn, mà luôn phụ thuộc chủ yếu vào lòng trung thành và khả năng phụng sự đối với cấp trên. Xét cho công bằng, nhà Nguyễn để mất nước vào tay thực dân Pháp vì cơ chế tuyển lựa quần thần chỉ đào tạo được thành phần cai trị bảo thủ và giáo điều; tấm lòng trung dũng thì quá thừa, nhưng năng lực trí lễ thì lại quá thiếu. Đương nhiên yếu tố “lễ” ở đây không phải là phép tắc đối với cấp trên, mà cung cách đối xử với cấp dưới.

Nguyên tắc đạo đức của xã hội ta xưa nay là người tài giỏi phải biết che giấu tài năng, chờ đợi bổ nhiệm, thay vì tranh đua nhau để làm tốt trách nhiệm giao phó. Chứng tỏ tài năng quá sớm hoặc bầy tỏ tham vọng cá nhân quá rõ ràng, là dấu hiệu không kính trọng đến quyền lực cấp trên, luôn bị trù dập. “Chữ tài liền với chữ tai một vần” là tiếng thở dài của cụ Nguyễn Du cho thân phận trí thức trong xã hội ta. Hiệu quả công việc không ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của định chế mà họ đang phục vụ. Trái lại, tôn sùng thượng cấp để tranh thủ quyền lực mới là yếu tố quyết định cho cơ hội thăng tiến. Xã hội nho giáo không chấp nhận cách chọn lọc nhân tài bằng kết quả cạnh tranh thông qua hiệu quả công việc hoặc bằng tài năng cá nhân. Đạo đức nho giáo dạy con người phải chấp nhận vị trí quyền lực theo trình tự là quan hệ huyết thống, nhân hệ cá nhân, và thâm niên công vụ. Những nguyên tắc đạo đức như vậy chỉ đào tạo con người có quyền lực, nhưng không biết suy nghĩ độc lập, chỉ lặp lại những gì được phép nói, không dám đề ra các giải pháp táo bạo, mang tính đột phá.

Ngày xưa, đạo đức Khổng Mạnh đào tạo giới sĩ phu có lòng trung thành tuyệt đối với triều đại mà họ phục vụ. Nhờ vậy mà một minh quân có thể an tâm lựa chọn hiền thần tài giỏi, phụ giúp điều hành đất nước. Cơ hội thăng tiến của những người tài ba nhờ đó được rộng mở khi nhà vua biết nghe lời can gián phải trái. Ngày nay, nội bộ đảng Cộng Sản không có quyền lực tuyệt đối, luôn cố định như các triều đại phong kiến, mà là quyền lực tranh chấp, kìm chế nhau để giành lấy danh nghĩa đảng. Do đó, những người đang nắm giữ quyền lực tối cao trong đảng Cộng Sản, muốn duy trì địa vị, phải lựa chọn đảng viên kế thừa theo khả năng tranh thủ danh nghĩa đảng, hơn là vào tài năng mang lại lợi ích cho đất nước. Khi các đảng viên kế thừa nắm giữ quyền lực tối cao, họ sẽ phải lặp lại chu kỳ trên, nếu không muốn bị tước đoạt mất quyền lực. Với cách thức chọn lọc nhân tài như vậy, người dân ta hiện nay chỉ được hưởng quyền lợi khi lợi ích của đảng Cộng Sản phù hợp với ước vọng của toàn dân.

8. Nhận xét về giải pháp của xã hội ta:
Luật pháp xã hội ta xưa nay bao giờ cũng đứng về thành phần biết tranh thủ hơn là những người nghiêm chỉnh tuân thủ. Do đó, khả năng duy trì và khuyếch trương thịnh vượng cá nhân trong xã hội ta luôn là vấn đề nhạy cảm, ít bị tài năng kinh doanh chi phối.

Đối với người lợi dụng quyền hành chính trị, bẻ cong luật lệ, chà đạp đạo đức để tư lợi, thành quả về kinh tế sẽ bấp bênh, luôn bị lệ thuộc vào quyền lực chính trị. Người khôn ngoan phải biết tự giới hạn về thời gian và mức độ lợi lộc do tham nhũng mang lại. Kẻ tham lam sẽ gây nên mâu thuẫn với đồng liêu, ganh tị từ cấp trên, hoặc bất mãn bởi công luận bên ngoài. Ai không ý thức được giới hạn của mâu thuẫn sẽ chứng kiến thành tựu của mình tan tành, nếu cơ chế chính trị cần phân chia lại quyền lực hoặc phải xoa dịu lòng phẫn nộ của công chúng. Do đó, cơ chế chính trị nước ta quan tâm đến lợi ích của công chúng thì ít, chủ yếu là chăm lo đến quyền lợi riêng tư.

Đối với doanh nhân tài giỏi, cơ hội thành đạt của họ phụ thuộc vào kết quả mua chuộc quyền lợi chính trị. Cũng giống như kẻ tham nhũng, họ phải ý thức được mức giới hạn về quyền lực mà tiền bạc có thể mua được. Kẻ nào hơi cả tin hoặc quá tự tin sẽ phải chứng kiến thành quả họ xây dựng bị tịch thu, bản thân còn có thể bị tù đầy. Người nào khôn ngoai sẽ không tạo thế lực kinh tế có nguy cơ lấn áp quyền lực chính trị. Do đó, xã hội ta sẽ không thể nào xuất hiện tập đoàn kinh tế độc lập được với quyền lực chính trị.

Đối với những người có tài nhưng trắng tay, con đường thành đạt về kinh tế luôn đầy rẫy nhiều cạm bẫy rủi ro và bất trắc. Nếu có tài và tham vọng cao, họ thường là thành phần thừa hành trong cơ chế chính quyền, vừa đóng vai trò làm chốt thí cho thành phần điều hành dùng khi cần phải nghiêm trị thành phần tham nhũng, xoa dịu lòng phẫn nộ của công chúng. Nếu nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ, họ sẽ không thể nào cạnh tranh lại với những thành phần biết tranh thủ luật lệ. Do đó, mọi người trong xã hội sẽ không thể nào có được cơ hội vươn lên bằng chính tài năng trung thực của chính mình.

Trong xã hội ta xưa nay, số mạng và may mắn dường như là yếu tố quyết định cho kết quả thành đạt thịnh vượng của mỗi người. Những yếu tố có vẻ như thiên mệnh đó thật ra lại là sản phẩm do cơ chế xã hội tạo thành. Người may mắn gặp thời phất lên hoặc vấp phải rủi ro lụm bại, chỉ là xác xuất trục trặc của một guồng máy xã hội bị nhiều vướng mắc, khúc mắc, và tắc mắc. Vướng mắc càng nhiều, khả năng áp chế của guồng máy đó lên xã hội càng mạnh; do đó, xác xuất lợi dụng vướng mắc để tư lợi càng cao, số người gặp được cơ hội phất lên lại càng gia tăng. Tắc mắc càng nghiêm trọng, guồng máy đó sẽ trở nên riệu rã. Do đó, xác xuất tìm vật hy sinh để giải quyết tắc mắc càng cao, số người mắc phải vận mạng rủi ro càng thêm đông đảo.

Các giải pháp mà xã hội ta dùng giải quyết mâu thuẫn xưa nay, đóng vai trò chính trong quá trình hình thành “di sản văn hóa” trong lòng mỗi con người Việt Nam chúng ta hôm nay. Kết quả tích cực cũng như tiêu cực trong các giải pháp đó đã ảnh hưởng rất lớn đến cung cách suy nghĩ và ứng xử trong mỗi người chúng ta. Chúng ta thường không chọn cách đối đầu trực tiếp với mâu thuẫn, hoặc tìm cách lợi dụng lợi ích do mâu thuẫn mang lại, mà luôn chuộng cách “dĩ hòa vi quý” để được “một điều nhịn chín điều lành”. Do đó, mâu thuẫn trong xã hội ta ít khi được giải quyết thỏa đáng, mà thường chuyển đổi bản chất và tích lũy cường độ. Nếp suy nghĩ thuần phục tôn ti trật tự trong gia đình và xã hội đã làm người dân ta chấp nhận bạo lực cường quyền, trông cậy vào quy luật nhân quả hơn là nhờ cậy ở công lý nhân mệnh. Phải chăng lúc người Việt chúng ta vẫn còn tin vào quy luật nhân quả, họ trở nên hiền hòa và tỏ ra nhu nhược trước cường quyền? Liệu rằng khi không còn có lòng tin ở công lý thiên mệnh, nhiều người dân ta thường chọn cách buông xuôi, hoặc trở nên tàn nhẫn, hoặc mới dám can đảm chống lại bạo quyền? Với nhiều mặt tiêu cực trong “di sản văn hóa” mà chúng ta đang thừa kế, đất nước ta sẽ không thể nào trở thành một cường quốc, nếu xã hội ta chưa tìm ra được các giải pháp thỏa đáng để giải quyết mọi mâu thuẫn trong xã hội theo chiều hướng “thịnh tiến”.

III. Nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn:

Con người có tư duy, biết so sánh mới phát sinh mâu thuẫn. Có tồn tại mâu thuẫn giữa mọi người, xã hội mới có nguồn năng lượng vận hành guồng máy tạo ra thành quả thịnh vượng kinh tế. Nếu xã hội không biết tận dụng nguồn năng lượng này vào việc hữu ích, hậu quả không chỉ đơn thuần là sự lãng phí, mà còn làm dồn nén nguy cơ bùng nổ thành bạo động, tàn phá các thành tựu đã dầy công gầy dựng.

1. Nguyên tắc giải quyết tổng quát:
Mục đích của các giải pháp là xã hội phải phát triển theo chiều hướng thịnh tiến, luôn bảo tồn và khuyếch trương các thành quả thịnh vượng kinh tế. Để đạt được mục đích đó, cơ chế chính trị trong xã hội cần tuân theo những nguyên tắc chung sau đây:
- Quyền lực chính trị căn bản của con người là các quyền làm người, gọi tắt là nhân quyền. Nhân quyền càng rộng rãi và có sức mạnh thực, các giải pháp càng đạt độ hiệu quả cao.
- Mọi ngưòi trong xã hội phải có quyền lực chính trị căn bản và có quyền dùng mọi phương tiện để thực thi và thể hiện các quyền đó, nếu kết quả lẫn hệ quả không vi phạm và xâm phạm đến quyền lực của bất kỳ người khác.
- Mọi người trong xã hội phải được bình đẳng và bình quyền về quyền lực chính trị căn bản, bất kể giàu nghèo, thân thế, nhân hệ, hoặc địa vị xã hội.
- Mọi người trong xã hội phải tuyệt đối tuân thủ và tôn trọng luật pháp, không ai được ở ngoài hoặc đứng trên luật pháp. Hệ thống luật pháp phải tuyệt đối bảo vệ quyền lực chính trị căn bản của mỗi người dân trong xã hội.
- Mọi mâu thuẫn trong xã hội phải được giải quyết bằng hình thức cạnh tranh, trong đó, những người chịu ảnh hưởng từ mâu thuẫn phải có quyền quyết định kết quả thành bại.
- Quyền lực chính trị trong xã hội chỉ có thực lực khi được sự hỗ trợ đắc lực của quyền lợi kinh tế.
- Luôn phát huy quyền lực chính trị trong xã hội để kìm chế nhau, nhưng không cho phép tồn tại quyền lực chính trị tuyệt đối.
- Quyền lợi kinh tế có thể dùng để đổi lấy quyền lực chính trị, nhưng quyền lực chính trị không thể mang lại được quyền lợi kinh tế khi đương nhiệm. Diễn đạt rõ hơn, quyền lợi kinh tế không được có nguồn gốc từ quyền lực chính trị.
- Không thể dùng bất kỳ tiêu chuẩn đạo đức nào để buộc con người phải tự nguyện hạn chế quyền lực chính trị, hoặc quyền lợi kinh tế.

Xã hội mà nhân quyền có sức mạnh thực và được tôn trọng tối đa, là xã hội có được tự do chính trị. Tự do chính trị là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công cơ chế chính trị tuân thủ triệt để các nguyên tắc nêu trên. Chỉ khi có cơ chế như vậy, xã hội mới tạo được môi trường thuận lợi, làm mọi người đều có cùng cơ hội và lợi thế như nhau trong quá trình tranh chấp mâu thuẫn. Khi đó, mâu thuẫn có thể sẽ bị triệt tiêu ở mức độ cá nhân; tuy rằng mâu thuẫn vẫn mãi tồn tại trong phạm vi xã hội. Do đó, giải pháp hay nhất là làm cho mâu thuẫn luân chuyển một cách ổn thỏa giữa mọi người, sao cho kết quả giải quyết luôn thúc đẩy xã hội phát triển theo chiều hướng thịnh tiến.

Mọi mâu thuẫn trong xã hội ngoài các thành phần trực tiếp liên quan, thông thường kết quả giải quyết còn gây ảnh hưởng đến nhiều người khác nữa. Quá trình giải quyết mâu thuẫn không thể chỉ liên hệ đến các thành phần đối nghịch trực tiếp, theo tinh thần mạnh được yếu thua; mà những người bị ảnh hưởng trực tiếp phải có quyền quyết định kết quả của giải pháp. Với nguyên tắc này, mâu thuẫn giữa hai thành phần đối nghịch sẽ khó trở nên gay gắt, dẫn đến xung đột, vì họ ít trực tiếp triệt hạ lẫn nhau, mà phải tranh thủ đến sự ủng hộ của những người có quyền quyết định. Hơn nữa, kết quả giải quyết bao giờ cũng có lợi cho xã hội, vì những người bị ảnh hưởng thường chọn lựa giải pháp tốt nhất cho bản thân họ. Hệ quả là mâu thuẫn ban đầu giữa hai thành phần đối nghịch trở thành mâu thuẫn giữa kẻ thua cuộc với một nhóm người trong xã hội. Do đó, xã hội sẽ bị ảnh hưởng từ mối mâu thuẫn mới này, nên không thể để tồn tại tình trạng kẻ thắng người thua vĩnh viễn. Xã hội phải tạo mọi điều kiện thuận lợi, sao cho những người thua có cơ hội thích hợp để trở thành kẻ thắng trong các cuộc cạnh tranh mới.

Truyền thống nho giáo của xã hội ta xưa nay là trọng lối sống thanh bần để giữ gìn giá trị đạo đức. Tuy nhiên những gia đình gia giáo chỉ duy trì được lối sống đó nếu họ có được cuộc sống đủ “bần” để còn được giữ được nếp “thanh”. Bị quá “bần” cùng, họ sẽ không thể nào sống nổi cuộc đời “thanh” bạch để giữ gìn kỷ cương đạo đức. Ngày xưa trong xã hội nông nghiệp khép kín, khoảng cách phân hóa giàu nghèo không quá lớn, giữ gìn gia giáo, sống thanh bần luôn được sự kính trọng của nhiều người xung quanh. Ngày nay, quan niệm về lối sống “bần” không còn ở mức độ thấp như xưa, nên vấn đề đạo đức suy đồi trong xã hội ta là hệ quả hẳn nhiên. Hiện nay, nhiều người trong xã hội ta sẽ không ngần ngại hy sinh giá trị đạo đức để giành lấy quyền lợi kinh tế. Tuy nhiên khi đến mức độ “bần” mới, sẽ có nhiều người lại sẵn sàng khước từ quyền lợi kinh tế. Lý do thường là vì quyền lợi kinh tế không đáng để vi phạm nguyên tắc đạo đức cá nhân. Do đó, muốn giữ gìn kỷ cương đạo đức trong xã hội, con người phải có được cuộc sống vật chất sung túc. Đó là “phú quí sinh lễ nghĩa” mà xã hội ta đã ghi nhận từ lâu. Xa hơn nữa, giá trị đạo đức chỉ phát huy được rộng rãi trong xã hội, nếu con người nhận được quyền lợi kinh tế tương xứng. Doanh nhân chỉ rèn luyện nhân cách đạo đức, nếu nhờ đó mà họ xây dựng được uy tín trên thương trường. Nhân viên chỉ lễ phép với khách hàng, nếu đó là điều kiện cần thiết để thăng tiến. Quan chức chính quyền chỉ nhã nhặn với dân chúng, nếu quyền lực lệ thuộc vào lòng tín nhiệm của công chúng. Đó là “lễ nghĩa sinh phú quí”, là một phần của nội lực thịnh vượng đã đề cập trong chương I.

Con người sẽ khó duy trì được quyền lực chính trị nếu chỉ dựa vào giá trị đạo đức, hoặc quyền lực chính trị thuần túy. Quyền lực chính trị của một người lệ thuộc vào sự chia xẻ và đóng góp về quyền lực chính trị của nhiều người khác trong xã hội. Phần chia xẻ và đóng góp nhận được càng nhiều, quyền lực chính trị của cá nhân đó sẽ càng thêm mạnh. Đạo đức cá nhân chỉ mang lại địa vị cao trong hệ thống quyền lực chính trị, nếu xã hội còn tôn trọng kỷ cương đạo đức. Tuy nhiên, giá trị đạo đức sẽ không thể duy trì được địa vị cao cho cá nhân đó, nếu những người đã ủng hộ không nhận được quyền lợi kinh tế mà họ đang mong đợi. Tương tự, con người sẽ không duy trì được quyền lực chính trị nếu chỉ dựa vào quyền lực chính trị thuần túy. Được công chúng hết lòng tín nhiệm vẫn chưa thể mang lại quyền lực chính trị tương xứng, nếu quyền lực chính trị của người dân chỉ được danh xưng mà không có thực lực. Điều này đặc biệt đúng trong xã hội ta, khi quyền lực chính trị căn bản của người dân hoàn toàn bị tách rời khỏi quyền lợi kinh tế. Trên lý thuyết, nhân dân ta có đầy đủ quyền lực chính trị căn bản, nhưng đó là quyền lực xin cho, phải gian nan đi xin mới được phép có. Họ mạnh dạn tham gia biểu tình vì bị thiệt thòi từ chính sách đất đai, hoặc tham-gia đình-công bởi muốn được trả đồng lương cân xứng. Tất cả những động lực đó chỉ tổng hợp được sức mạnh chính trị, khi họ bị ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi kinh tế. Họ chưa dám hợp quần sức mạnh để đòi hỏi quyền lực chính trị, đáng ra phải là quyền đặc nhiên. Dù vậy, trong xã hội có tự do chính trị, nếu không có quyền lợi kinh tế đi kèm, một cá nhân được công chúng hết lòng tín nhiệm, vẫn chưa thể tranh thủ được quyền lực chính trị của họ. Cá nhân đó sẽ khó lòng tổng hợp được quyền lực chính trị từ công chúng để tranh đấu cho những vấn đề tuy có giá trị đạo đức, nhưng vừa làm hao tổn công quỹ, vừa không liên quan gì đến quyền lợi kinh tế của họ. Tóm lại, quyền lực chính trị trong xã hội chỉ có thực lực, khi có được quyền lợi kinh tế hỗ trợ.

Quyền lực chính trị trong xã hội không thể đạt được quyền uy tuyệt đối. Nếu không bị kiềm hãm, quyền uy chính trị tuyệt đối sẽ mang lại siêu lợi nhuận kinh tế, gây mâu thuẫn không thể giải quyết thỏa đáng, làm nền kinh tế trì trệ, và dồn xã hội vào chu kỳ xung đột thịnh suy. Biện pháp ngăn ngừa hiệu quả nhất là những thành phần cùng chung quyền lợi kinh tế phải kết hợp được với nhau, củng cố và tăng cường quyền lực chính trị cho nhau. Độc quyền kinh tế luôn nẩy sinh đối nghịch về quyền lợi với nhiều thành phần khác trong xã hội. Nhờ biện pháp đó, đối nghịch về quyền lợi kinh tế sẽ luôn phát sinh đối lập về quyền lực chính trị. Có đối lập về quyền lực chính trị mới ngăn ngừa được độc quyền kinh tế đến độ tuyệt đỉnh và ngăn chặn được quyền uy chính trị ở mức tuyệt đối. Do đó, quyền lực chính trị trong xã hội sẽ luôn bị kiềm chế lẫn nhau. Trong xã hội có tự do chính trị, quyền lợi kinh tế sẽ phát sinh quyền lực chính trị, nhằm giải quyết mâu thuẫn do đối nghịch về quyền lợi mà cơ chế thị trường không tự giải quyết được. Quyền lực chính trị phải tuyệt đối tuân theo những nguyên tắc đã được xã hội thỏa thuận từ trước; đồng thời chỉ được dùng để bảo vệ quyền lợi kinh tế khỏi bị lấn áp bởi những hình thức cạnh tranh trái nguyên tắc, do các thế lực kinh tế mạnh hơn áp đặt. Nếu không có nguyên tắc chế tài, nhiều người có quyền lực hoặc tài lực sẽ lạm dụng quyền hành chính trị, không những để bảo vệ quyền lợi của phe phái họ bằng mọi hình thức, mà còn đoạt lấy quyền lợi kinh tế chính đáng của các thành phần khác. Chính vì lẽ đó, quyền lợi kinh tế có thể dùng để đổi lấy quyền lực chính trị, nhưng quyền lực chính trị không thể nào mang lại được quyền lợi kinh tế.

2. Thế nào là tự do chính trị:
Trong suốt hơn 4000 năm lịch sử, đất nước ta chưa bao giờ có được tự do chính trị và người dân ta chưa hề hưởng thụ được đầy đủ những quyền làm người. Hiện nay, cụm từ này đang bị cấm kỵ và nhiều người tìm cách né tránh để khỏi mang họa vào thân.

Tự do chính trị là nhân quyền có sức mạnh thực và được tôn trọng tối đa. Nhân quyền là quyền lực chính trị căn bản của con người, trong đó số lượng “quyền” và sức mạnh “lực” phải luôn gia tăng với thời gian, chứ không thể giảm sút. Quyền lực chính trị tối thiểu của con người là:
1) Quyền được sống, tự do mưu cầu, và sử dụng mọi phương tiện để đạt được hạnh phúc cá nhân; nếu kết quả lẫn hậu quả không vi phạm quyền lực chính trị căn bản của người khác.
2) Quyền được tự do phát triển và truyền bá tư tưởng, bất kể nội dung, dù có đối nghịch với mọi giá trị đang được tôn thờ trong xã hội.
3) Quyền được tôn trọng và bảo vệ tối đa quyền làm người trước mọi thế lực trong xã hội; nếu cá nhân đó không vi phạm đến nhân quyền của người khác.
4) Quyền được tham gia vào các cơ cấu tổ chức quyền lực chính trị trong xã hội.
5) Quyền được quyết định hoặc ảnh hưởng đến sự bổ nhiệm lẫn bãi nhiệm thành phần lãnh đạo trong các cơ cấu tổ chức quyền lực chính trị trong xã hội.
6) Quyền được quyết định hoặc ảnh hưởng đến mọi qui định về luật pháp trong xã hội.

Con người luôn ham muốn quyền lực vì đó là phương tiện dễ dàng nhất cho kẻ mạnh đoạt lấy được quyền lợi kinh tế. Quyền lực của kẻ mạnh sẽ càng thêm mạnh nếu càng nhiều người trong xã hội không mưu cầu được hạnh phúc cá nhân, bị tước đi mất quyền làm người. Chính vì lẽ đó, nên quyền làm người không phải là quyền tự nhiên được thiên nhiên ban phát. Đó là những quyền mà mọi người phải luôn tranh đấu để thực sự sống xứng đáng với vai trò được làm người. Lịch sử phát triển nhân loại đạt được thành tựu này nhờ vào một trong hai hình thức sau:
- Xuất hiện quyền lực kinh tế độc lập và mạnh hơn so với quyền lực kinh tế truyền thống. Nhân quyền phổ cập là phương tiện mạnh mẽ nhất để thế lực chính trị mới đánh đổ thành trì chính trị thủ cựu. Khi nhiều người có được nhân quyền, họ sẽ khó từ bỏ những quyền lợi đó. Đây là hình thức thịnh vượng kinh tế sẽ mang lại tự do chính trị.
- Dựa vào kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, tự do chính trị là điều kiện tiên quyết để giải quyết thỏa đáng mọi mâu thuẫn xã hội và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho nền kinh tế. Xã hội sẽ có quyền tự do chính trị, để mọi người cùng có cơ hội mưu cầu hạnh phúc riêng. Đây là hình thức tự do chính trị sẽ mang lại thịnh vượng kinh tế.

Chương III (“Tự do và các nguyên tắc tự do”) sẽ bàn luận chi tiết về các quyền tự do của con người, vốn là hệ quả của những quyền từ (1) đến (3) nêu trên. Chương V (“Dân chủ và các nguyên tắc dân chủ”) sẽ thảo luận chi tiết về những hình thức sử dụng xưa nay để thực hiện những quyền từ (4) đến (6). Xã hội nào tôn trọng và bảo đảm tuyệt đối những quyền trên cho mọi người một cách bình đẳng như nhau, là xã hội thiết lập được quyền tự do chính trị. Tuy vậy, xã hội chỉ duy trì được quyền tự do chính trị, khi mọi người luôn chủ động thể hiện quyền lực chính trị của họ, để bảo vệ cho những giá trị mà họ tin tưởng và đeo đuổi. Gắn liền những giá trị đó vào quyền lợi kinh tế sẽ làm họ luôn tích cực tham gia vào các sinh hoạt chính trị trong xã hội. Đó là giải pháp thiết thực nhất để giải quyết thỏa đáng mâu thuẫn giữa mọi người, theo chiều hướng thịnh tiến.

3. Tự do chính trị và các giải pháp mâu thuẫn:
Xã hội có được tự do chính trị sẽ bảo đảm được môi trường trong sạch và lành mạnh, sao cho mọi thành phần đang tranh chấp mâu thuẫn đều được công bằng về cơ hội và lợi thế trong quá trình tranh đua. Môi trường lành mạnh là mọi người có quyền tự do tìm tòi và thi hành giải pháp, nếu phương tiện lẫn hậu quả không vi phạm nhân quyền của người khác. Môi trường trong sạch là mọi người có quyền cạnh tranh bình đẳng với nhau khi đeo đuổi giải pháp, bất kể nhân hệ có thân thiết với thế lực chính trị hoặc tài lực kinh tế. Hệ quả của môi trường này là chỉ có những người chịu ảnh hưởng từ kết quả tranh chấp mâu thuẫn mới giữ vai trò quyết định thành phần thắng bại. Trong thương trường, dù ít vốn vẫn có thể cạnh tranh đối nghịch được với kẻ đại gia, nhờ đáp ứng thỏa đáng nhu cầu của khách hàng. Trong chính trường, thiểu số dù yếu thế vẫn có thể tranh giành quyền lực với kẻ thế lực, nhờ bảo vệ được quyền lợi chính đáng của nhiều người trong xã hội. Với cơ chế này, mọi mâu thuẫn giữa con người đều mang lại lợi ích cho toàn xã hội; luôn là nguồn năng lượng làm vận hành guồng máy thịnh vượng kinh tế.

3.1) Mâu thuẫn sở hữu:
Đây là mâu thuẫn giữa giai cấp lên cá nhân và đa số người, với bản chất nguyên thủy là áp bức. Nhờ có tự do chính trị, đa số người sẽ tạo áp lực chính trị lên quyền tư hữu. Do đó, quyền tư hữu không phải là quyền được hưởng thụ, nhưng lại là trách nhiệm mang lại lợi ích kinh tế không chỉ cho người được sở hữu, mà còn cho toàn xã hội nữa. Người tiêu thụ thành phẩm sẽ quyết định ai là người xứng đáng sở hữu các nguồn tài nguyên hữu hạn trong xã hội. Ai không kham nổi gánh nặng làm chủ sở hữu, sẽ bị người khác có đầy đủ khả năng thay thế. Trong xã hội không có kẻ thắng người thua vĩnh viễn trong quyền sở hữu. Với hình thức giải quyết này, bản chất mâu thuẫn vẫn còn áp bức, nhưng từ đa số người lên đến những người hiện đang có quyền sở hữu.

Khi tranh giành quyền sở hữu, xã hội sẽ chọn lọc được người xứng đáng được làm chủ sở hữu, dựa vào lợi ích mà người đó thực sự mang đến cho xã hội. Mâu thuẫn về sở hữu sẽ mang lại lẽ công bằng trong quyền sở hữu. Lẽ công bằng trong quyền sở hữu kết hợp với môi trường cạnh tranh để được quyền sở hữu, sẽ mang lại tính công khai trong quyền sở hữu.

3.2) Mâu thuẫn thị trường:
Đây là mâu thuẫn từ cá nhân hoặc thiểu số người gây lên giai cấp, với bản chất nguyên thủy là bốc lột. Trong xã hội tự do chính trị, quyền lực chính trị của thiểu số người được lợi thế trong thị trường và đa số người bị thiệt thòi quyền lợi kinh tế sẽ cân bằng nhau. Do đó, bất kể thế lực kinh tế mạnh yếu, mọi thành phần tham gia trao đổi luôn phải chịu trách nhiệm nếu gây thiệt hại và được hưởng quyền lợi tương xứng khi mang lại lợi ích. Ngoài ra, quyền lực chính trị chỉ can thiệp vào quá trình trao đổi khi thật cần thiết vì điều này luôn gây nhiều bất tiện trong thủ tục trao đổi. Cạnh tranh lẫn nhau luôn là giải pháp cho mâu thuẫn thị trường. Xét về phương diện các thành phần bị kết quả cạnh tranh đào thải, mâu thuẫn này vẫn còn mang bản chất bốc lột, vì thiểu số thắng cuộc thường thừa hưởng một cách bất công những thành quả của họ.

Khi điều kiện trao đổi có tính chất tự nguyện, mâu thuẫn trong điều kiện trao đổi sẽ dẫn đến quá trình trao đổi ngày càng có tính công bằng. Mọi người sẽ từ chối mọi điều kiện trao đổi bất lợi, bất hợp lý. Muốn có sự trao đổi, đôi bên phải cùng tôn trọng quyền lợi lẫn nhau, không thể chèn ép nhau. Do đó, thủ tục trao đổi sẽ bảo vệ được quyền lợi chính đáng của các thành phần tham gia. Khi các thành phần tham gia quá trình trao phải chịu trách nhiệm nếu gây thiệt hại và luôn được hưởng quyền lợi khi mang lại lợi ích, để bảo vệ quyền lợi riêng, họ phải cung cấp thông tin trao đổi một cách trung thực, minh bạch, và chính xác. Khi mọi ngưòi không cần phải quan ngại về nguy cơ bị thiệt thòi trong quá trình trao đổi, phương thức trao đổi sẽ trở nên nhanh chóng và tiện lợi hơn. Con người chỉ quan tâm tối thiểu đến quá trình trao đổi, dành được phần lớn thời gian vào các hoạt động kinh tế hữu ích.

3.3) Mâu thuẫn nhân hệ:
Đây là mâu thuẫn giữa cá nhân đối nghịch với xã hội, với bản chất nguyên thủy là lấn áp bằng lợi thế quyền lực hoặc tài lực. Nếu mâu thuẫn nhân hệ trở nên gay gắt, áp lực chính trị từ đa số người trong xã hội đang bị thiệt thòi, sẽ ngăn cản sự lạm dụng mối nhân hệ thân quen để thủ lợi về quyền lực chính trị hoặc quyền lợi kinh tế. Đây là giải pháp nhằm ngăn ngừa nguy cơ lũng đoạn các định chế xã hội từ mối nhân hệ thân thuộc và thân quen. Xét về những người bị thiệt thòi về lợi ích trong mối nhân hệ thân quen, bản chất của mâu thuẫn vẫn còn mang tính chất lấn áp.

Xét về mặt khác, mâu thuẫn nhân hệ mang lại hai điều lợi. Lợi điểm thứ nhất là những người may mắn có được mối nhân hệ thân thiết hoặc thân quen được nhiều lợi thế trợ giúp, có thể đeo đuổi hoài bão và nguyện vọng riêng mà không cần phải khởi nghiệp bằng bàn tay trắng. Nhờ đó nên tiến trình phát triển trong xã hội sẽ diễn ra nhanh hơn, mang lợi ích đến cho xã hội sớm hơn. Lợi điểm thứ hai là thành phần không được may mắn phải giải quyết mâu thuẫn bằng cách tạo dựng mối nhân hệ mật thiết của riêng họ, nhằm trợ giúp họ xây dựng nên sự nghiệp. Muốn thành công, mọi người phải biết cách tranh thủ sự hợp tác lẫn nhau, với tinh thần tôn trọng quyền lợi của nhau. Nhờ vậy mà nền kinh tế mới hình thành nên các tổ chức, tập đoàn lớn, tổng hợp được sức mạnh tập thể, đạt được nhiều thành tựu vượt quá mức tưởng tượng của con người.

3.4) Mâu thuẫn cơ chế:
Đây là mâu thuẫn giữa xã hội đối nghịch với giai cấp, với bản chất nguyên thủy là cưỡng chế. Trong xã hội tự do chính trị, giai cấp cầm quyền không thể cưỡng chế lên xã hội bằng quyền lực chính trị của giai cấp họ. Cơ chế kinh tế thường phải trung lập về quyền lợi kinh tế, không tạo thuận lợi cho giai cấp này bằng cách áp chế lên giai cấp khác, mới giữ được thế cân bằng trong quyền lực chính trị. Giai cấp cầm quyền nếu áp dụng chính sách làm cơ chế vận hành nền kinh tế thiên vị cho quyền lợi của thiểu số, hoặc không mang lại quyền lợi như đã hứa hẹn cho thành phần đa số, sẽ bị tước mất quyền hành. Với hình thức giải quyết này, xã hội sẽ cưỡng chế được tính thủ cựu trong cơ chế chính trị để buộc cơ chế tiến hóa và theo kịp với đà phát triển của xã hội.

Lúc nào trong xã hội bao giờ cũng có nhiều thành phần đối nghịch về quyền lợi với cơ chế kinh tế ở thời điểm hiện tại. Thay vì phải né tránh hoặc chấp nhận thiệt thòi về quyền lợi, làm dồn thêm nén mâu thuẫn, mọi người đều có khả năng đối đầu trực tiếp với cơ chế kinh tế đang áp dụng trong xã hội. Càng nhiều người đối đầu với cơ chế, họ sẽ thay đổi được cơ chế kinh tế. Nhờ vậy nên cơ chế kinh tế luôn phục vụ quyền lợi kinh tế của đa số người trong xã hội.

Không giải quyết thỏa đáng được mâu thuẫn cơ chế, xã hội sẽ tuần hoàn theo chu kỳ “thịnh suy”. Thời kỳ thịnh là nhờ tháo gỡ tắc mắc nghiêm trọng trong cơ chế, để lại vướng vào những khúc mắc tương tự trong giai đoạn suy. Có mâu thuẫn phát sinh từ cơ chế kinh tế, xã hội mới nhận thức được mọi bất cập trong cơ chế hiện tại. Nhờ có cách giải quyết thỏa đáng mâu thuẫn bằng phương pháp bất bạo động, mọi khúc mắc trong cơ chế đều luôn được tháo gỡ một cách hợp thời, hợp tình, và hợp lý. Kết quả là xã hội luôn phát triển theo đà “thịnh tiến”.

3.5) Mâu thuẫn giai cấp:
Đây là mâu thuẫn giữa giai cấp với giai cấp, với bản chất nguyên thủy là xung đột giai cấp. Nhờ có tự do chính trị, những giai cấp bị thiệt thòi quyền lợi kinh tế luôn liên kết với nhau để tạo sức mạnh cho quyền lực chính trị của giai cấp họ. Với sự can thiệp của quyền lực chính trị, cơ chế kinh tế sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho giai cấp bị thiệt thòi cơ hội vươn lên. Nếu quyền lực chính trị can thiệp quá mức vào mâu thuẫn giai cấp, bản chất của mâu thuẫn vẫn giữ nguyên đặc tính nguyên thủy nhưng theo chiều hướng ngược lại.

Tâm lý chung của con người là tạo mọi điều kiện để thế hệ sau luôn gặp nhiều thuận lợi hơn thế hệ trước, có mức sống cao hơn hẳn mọi thế hệ trước đó. Lợi ích từ mâu thuẫn giai cấp là mọi người phải luôn phấn đấu để khỏi bị tụt hạng về giai cấp. Muốn được như vậy, giai cấp thượng lưu với lợi thế về quyền lợi và quyền lực sẵn có, phải biết cách đầu tư để tìm kiếm lợi ích cộng hưởng, thay vì tranh giành nhau theo quy luật bù trừ. Nhờ đó mà nhiều nhu cầu ban đầu chỉ dành riêng cho giới giàu có, lâu dần sẽ trở nên thông dụng trong cuộc sống hàng ngày.

Có đấu tranh giai cấp bằng các biện pháp bất bạo động, xã hội mới phát triển theo chiều hướng thịnh tiến. Khi những người thuộc giai cấp nghèo kém có được nhiều cơ hội vươn lên, giai cấp thượng lưu mới không thể dùng lợi thế giai cấp ở thời điểm hiện tại để duy trì tính cố định của giai cấp trong tương lai. Điều này mang lại nhiều hệ quả tốt đẹp cho viễn lực thịnh vượng. Giai cấp thượng lưu không thể được lợi và bị nguy cơ tụt hạng giai cấp, nếu duy trì thành quả thịnh vượng bằng hình thức tích lũy. Tương tự, họ không thể bảo vệ nổi thành quả thịnh vượng bằng quyền lực chính trị, hoặc giành độc quyền thành quả thịnh vượng bằng cách kìm hãm tiến bộ trong trí thức lao động.

3.6) Mâu thuẫn nội tâm:
Đây là mâu thuẫn giữa cá nhân với bản thân, với bản chất nguyên thủy là ganh đua. Môi trường tự do chính trị sẽ cho phép nhiều người tài giỏi thể hiện và tận dụng tối đa tài năng cá nhân. Xã hội nhân bản là xã hội không bỏ rơi những người yếu kém, không còn khả năng cạnh tranh, hoặc cần giúp đỡ khi thất cơ lỡ vận. Hầu hết mọi người trong xã hội đều nhận thức được điều này, vì đó là sự nâng đỡ, lưới bảo hiểm cho họ lỡ khi vấp ngã trên đường sự nghiệp. Tuy nhiên, họ cũng sẽ nhận thức rằng kiềm hãm những người tài giỏi, buộc mọi người cùng bình đẳng như nhau không phải là biện pháp hiệu quả để đeo đuổi mục đích nhân bản trong xã hội. Trong xã hội mà con người có được lòng an bình khi thất bại, được hưởng gần trọn thành quả lúc thành công, mọi người sẽ càng cố gắng vận dụng tối đa tài năng để tranh đua lẫn nhau. Ham tranh giành về vật chất sẽ bị thiệt thòi về đời sống tinh thần và ngược lại. Do đó, bản chất của mâu thuẫn vẫn luôn là sự xung đột giữa cá nhân với bản thân.

Mâu thuẫn nội tâm là nguồn năng lượng tạo nên nội lực thịnh vượng. Nhờ có áp lực thành đạt từ xã hội mà con người mới nỗ lực phấn đấu để trở nên thành công trong cuộc sống. Có được tiện nghi và đầy đủ trong cuộc sống vật chất, con người mới an tâm hưởng thụ các giá trị văn hóa trong đời sống tinh thần. Mâu thuẫn nội tâm của con người giữa đeo đuổi nhu cầu về vật chất và tìm lấy an bình trong tinh thần không ai giống nhau. Cơ chế kinh tế và nhân văn trong xã hội tạo điều kiện thuận lợi và nhiều cơ hội tốt để mỗi người tự tìm lấy điểm cân bằng riêng, sẽ mang lại cho họ cuộc sống vừa đầy đủ về vật chất lẫn thỏa mái về tinh thần.

Nhờ có mâu thuẫn nội tâm mà những người có tài, có chí thành đạt mới bỏ công tìm kiếm lợi ích cộng hưởng, thay vì phải cam chịu tầm chi phối của quy luật bù trừ. Nhờ vậy mà nền kinh tế luôn khám phá được nhiều cách mới để tạo ra giá trị “lợi nhuận tuyệt đối”, cơ chế thị trường với tính cạnh tranh cao sẽ chọn lọc được hiệu quả sản phẩm mà xã hội cần.

Nhiều người có tài, có chí thành công và thành đạt sẽ tạo nên nền văn hóa tự lập-nghiệp, tự-lực trong xã hội, khuyến khích nhiều người tham gia mạo hiểm kinh tế, tìm kiếm nhiều lợi ích cộng hưởng mới. Đối với thực tế nước ta, những yếu tố làm khai phóng nền văn hóa trọng về thương mại, thiên về kinh doanh, cầu tiến kiến thức vị thực dụng thay vì kiến thức vị trí thức, đó là:
- Xã hội phải có tự do chính trị và quyền lực chính trị không thể mang lại được lợi nhuận kinh tế khi đương nhiệm.
- Nhiều người trong xã hội không cần phải lo toan đến việc mưu sinh như nhu cầu ăn mặc.
- Nhân hệ thân thuộc hoặc thân quen chỉ mang lại lợi thế ban đầu, không thể là yếu tố quyết định khả năng thành công trong xã hội.
- Lợi nhuận chân chính là thước đo để xã hội đền đáp nỗ lực con người đã tạo nên giá trị gia tăng, hoặc mang lại giá trị thặng dư trong nền kinh tế, ở thời điểm hiện tại. Kết quả thành công của mọi người trong xã hội trực tiếp hay gián tiếp phải có nguồn gốc từ lợi nhuận chân chính.
- Những người mang lại giá trị gia tăng cho nền kinh tế, nếu nhận giá trị thặng dư tương ứng do cạnh tranh trong thị trường, phải có quyền hưởng thụ lợi nhuận chân chính một cách xứng đáng.
- Nền kinh tế tạo nhiều điều kiện thuận lợi để mọi người tận dụng được tài năng cá nhân, xây dựng nên sự nghiệp riêng. Những người mạo hiểm, dám nghĩ dám làm luôn có nhiều cơ hội thành công hơn là thành phần bảo thủ, ngại thay đổi, chuyên chỉ trích, hoặc sợ bị thất bại.

3.7) Mâu thuẫn trí thức:
Đây là mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân, với bản chất nguyên thủy là ganh tị. Trong xã hội có nhiều cơ hội cầu tiến, kẻ đang thành đạt ganh ghét tài năng với những người có tài sẽ không thể kiềm hãm nổi sức trỗi dậy của họ. Dù có toàn quyền quyết định đến khả năng thăng tiến của họ, kẻ đó vẫn không thể bảo vệ nổi địa vị cá nhân trước sức ép cạnh tranh của toàn xã hội.

Trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, những kẻ chuyên ganh ghét tài năng, trù dập những người lỗi lạc vì muốn bám giữ vị trí quyền lực sẽ không thể giữ vững được vị trí hiện tại. Mọi đoàn thể, tổ chức, hoặc định chế xã hội đều bị áp lực phải mang lại lợi ích tương xứng cho xã hội mới được quyền tồn tại. Nơi nào ganh ghét tài năng, sẽ bị mọi người xa lánh, đối thủ đè bẹp, và xã hội đào thải.

Trong môi trường này, có ganh đua giữa các đồng nghiệp, trí thức lao động mới có sự tiến bộ. Bởi lòng ganh đua mà những người có tài năng lỗi lạc mới phải phấn đấu khó nhọc để chứng minh và khẳng định vị trí của họ trong các ngành chuyên môn. Tuy gây trở ngại trên bước đường thăng tiến, khi nắm giữ được vị trí xứng đáng, họ sẽ chín chắn hơn, kinh nghiệm hơn, và tự tin hơn trong vai trò đang đảm nhận.

3.8) Lợi ích trong quan hệ đạo đức:
Quan hệ đạo đức chỉ có giá trị, nếu mâu thuẫn giữa mọi người được giải quyết thỏa đáng, hoặc bị kìm chế bằng gương sống mẩu mực. Khi con người không thể dùng quyền lực chính trị hoặc lợi thế kinh tế để áp chế những kẻ yếu hơn, họ sẽ phải tự nguyện tuân thủ các chuẩn mực đạo đức. Muốn xây dựng nhân hệ thân thiện và thân thiết, giữ gìn mẫu mực đạo đức là một trong những yếu tố quyết định lòng tín nhiệm của mọi người. Mọi người chỉ tự nguyện tuân thủ nguyên tắc đạo đức, nếu điều này mang lại quyền lực chính trị, lợi ích kinh tế, hoặc uy tín cá nhân đến cho họ.

Khi xã hội có môi trường cạnh tranh tự do và bình đẳng, mọi người sẽ càng đặt tiêu chuẩn đạo đức càng khắc khe cho những người có quyền cao chức trọng. Người nào không phấn đấu nổi sẽ bị người vừa có tài, vừa giữ gìn được mẫu mực đạo đức tranh giành và sẽ thành công thay thế. Do đó, xã hội luôn xây dựng được mối quan hệ đạo đức tốt đẹp giữa giới cầm quyền và tất cả mọi người.

Khi cùng nhau hợp tác kinh tế, chuẩn mực đạo đức trong thương trường thường dễ tạo sự tin tưởng hơn là hình thức trao đổi vật chất. Cá nhân nào tự nguyện tuân theo các chuẩn mực đạo đức đó sẽ được nhiều lợi thế trong việc kinh doanh. Uy tín cá nhân khi xây dựng được sẽ trở nên vô giá, mang lại cho người đó nhiều nguồn lợi nhuận thực ở hiện tại và trong tương lai. Một vài món lợi tuy nhiều, nhưng vẫn có thể không đủ để đánh đổ uy tín cá nhân đã dầy công bồi đắp. Do đó, xã hội thường tạo dựng được mối quan hệ đạo đức trung thực và lương thiện trong thương trường.

Quan hệ giữa mọi người trong xã hội luôn tốt đẹp hơn khi họ đều có quyền bình đẳng khi cần giải quyết các đối nghịch hoặc mâu thuẫn trong cuộc sống. Người ta tôn trọng tài năng hoặc tư cách cá nhân hơn là dựa vào thân thế gia đình. Sinh hoạt văn hóa trong xã hội nhờ đó cũng được phong phú và lành mạnh hơn vì mọi người đáp ứng nhu cầu cho nhau một cách bình đẳng. Trong gia đình, sự nể nang và kính trọng không thể dựa vào vai vế hoặc tuổi tác một cách vô điều kiện như trong kỷ cương nho giáo. Các giá trị đạo đức đó phải phấn đấu mới có, luôn đòi hỏi những điều kiện cụ thể như thành tựu cá nhân hoặc gương sống mẫu mực. Nhờ đó mà mối quan hệ đạo đức trong gia đình và xã hội luôn có giá trị thực.

IV. Kết luận:

Tự do chính trị là nguyện vọng của tất cả mọi người khi họ nhận thức được lợi ích vô giá từ đó mang lại cho bản thân và xã hội. Đối với nước ta, tự do chính trị sẽ là hệ quả tất yếu của quá trình hội nhập, là kết quả không thể ngăn cản được của “diễn tiến hòa bình”. Vấn đề cần được khảo sát là con đường nào để dẫn đến kết quả đó? Cũng như mọi xã hội toàn trị khác, có hai khả năng chính để xã hội ta đạt đến kết quả này:
- Con đường thịnh vượng kinh tế sẽ mang lại quyền tự do chính trị. Bằng phương pháp này, xã hội xuất hiện quyền lực kinh tế độc lập và mạnh hơn so với quyền lực kinh tế truyền thống. Nhân quyền phổ cập là phương tiện mạnh mẽ nhất để thế lực chính trị canh tân đánh đổ được thành trì của quyền lực chính trị thủ cựu. Khi nhiều người có được nhân quyền, họ sẽ khó từ bỏ những quyền lợi đó.
- Con đường tự do chính trị sẽ mang lại thịnh vượng kinh tế bền vững và thịnh tiến. Dựa vào kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, tự do chính trị là điều kiện tiên quyết để giải quyết thỏa đáng mọi mâu thuẫn xã hội và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho nền kinh tế phát triển. Khi xã hội có được quyền tự do chính trị, mọi người sẽ cùng có cơ hội mưu cầu hạnh phúc riêng, thịnh vượng kinh tế sẽ là hệ quả tự nhiên.

1. Thịnh vượng kinh tế sẽ mang lại quyền tự do chính trị:
Đây là quan điểm chính của đa số người dân ta, đặc biệt là thành phần trí thức trẻ đang thành công. Sự hình thành tầng lớp trung lưu ngày một đông đảo sẽ tạo áp lực xã hội làm thay đổi cơ chế chính trị. Điều này đã xảy ra ở Hàn Quốc, Đài Loan, Tây Ban Nha; tuy chưa thành hiện thực ở Mã Lai, Singaphore, Trung Quốc, Iran và các nước Arab giàu có. Đối với thực tế nước ta, những vấn đề sau đây sẽ là trở ngại lớn nhất đối với tiến trình này:

1.1) Yếu tố chính trị:
Quyền lực chính trị ở nước ta không phải liên kết bằng quyền lực độc tài của một vài cá nhân như ở các quốc gia đã thay đổi thành công cơ chế chính trị. Mối keo liên kết quyền lực chính trị ở nước ta là một đảng độc tài đã được toàn dân ủng hộ nhiệt tình, có hào quang quá khứ bảo bọc, danh nghĩa núp bóng thích hợp, và guồng máy tổ chức chặt chẽ. Điều quan trọng nhất là guồng máy tổ chức đảng Cộng Sản đã ăn sâu và trở thành các định chế xã hội, chính quyền và đảng cầm quyền trở thành một khối thống nhất. Muốn tạo được ảnh hưởng trong chính quyền phải gia nhập đảng độc tài cầm quyền. Do đó, trong chính quyền, số lượng cán bộ chính trị thì quá thừa, nhưng đội ngũ chuyên gia lại quá thiếu. Trong xã hội không lúc nào thiếu lớp người mới, ham muốn gia nhập Đảng Cộng Sản. Vấn nạn nghiêm trọng nhất là quyền lực lãnh đạo của đảng Cộng Sản không thể tự cải tổ, hoặc bị áp lực phải canh tân đến mức cho phép xã hội có được tự do chính trị. Thực hiện điều này sẽ tước mất quyền lợi của đa số đảng viên trẻ, đang muốn được hưởng thụ hơn nữa, chưa ý thức được giới hạn của quyền lực áp bức, và không hiểu biết được hậu quả cho chính bản thân và xã hội nếu xảy ra bạo động. Những vụ bạo động đang xảy ra ở Trung Quốc chỉ là giọt nước làm tràn ly, khi xảy ra ở nước ta sẽ gây ảnh hưởng lớn hơn nhiều, vì độ sai biệt lớn về tỉ lệ dân số giữa hai quốc gia.

Quyền lực chính trị ở nước ta là điều kiện tiên quyết để có được quyền lợi kinh tế tương xứng. Nhờ học hỏi được từ kinh nghiệm thế giới, chính quyền nước ta hiện nay sẽ không cho phép tồn tại quyền lực kinh tế độc lập, không lệ thuộc vào quyền thế chính trị. Đây là lý do làm triệt tiêu khả năng hình thành tầng lớp trung lưu đông đảo, làm giàu nhờ phương tiện kinh tế thuần túy. Lợi nhuận kinh tế trong xã hội luôn ưu tiên dùng để duy trì và bảo vệ quyền lực chính trị hiện hữu. Doanh nhân nào không hiểu được điều này sẽ tự vướng vào vòng lao lý, mà tội danh dễ bị mắc phải là trốn thuế hoặc gian lận. Tuy nhiên, doanh nhân lạm dụng điều này quá đáng sẽ là con chốt thí khi có tranh chấp quyền lực chính trị. Thiểu số trung lưu nào từ chối nhận thức về điều này sẽ có cuộc sống an bình hơn; tự bằng lòng với những gì mình đang có, không cần đòi hỏi nhiều hơn, dù tài năng chưa được tận dụng tối đa. Tất cả mọi giải pháp mâu thuẫn chính trị trong xã hội ta đều né tránh hoặc dồn nén sự đối nghịch. Do đó, nếu cơ chế chính trị đàn áp thẳng tay các phương thức tích cực nhằm giải quyết mối mâu thuẫn này một cách thỏa đáng, theo chiều hướng bất bạo động, xã hội ta sẽ không thể nào đạt được tự do chính trị bằng con đường thịnh vượng kinh tế.

1.2) Yếu tố kinh tế:
Tầng lớp trung lưu làm giàu không nhờ vào quyền lực chính trị hiện nay nhờ đâu mà có? Họ là những người đầy năng lực làm việc trong những công ty có vốn đầu tư ngoại quốc. Họ là những chuyên gia tài giỏi trong guồng máy chính quyền hoặc trong các công ty lớn trong nước. Doanh nhân độc lập, không có nhân hệ thân thiết với quyền lực chính trị tuy mức thu nhập tương đương hoặc cao hơn so với tầng lớp trung lưu, nhưng thành tựu của họ luôn bị lệ thuộc vào quyền lực chính trị. Doanh nhân là những người ý thức rõ rệt nhất rằng môi trường kinh doanh trong xã hội ta muốn sinh tồn, phải biết tranh thủ luật pháp. Dù làm ăn lương thiện, muốn xây dựng cơ nghiệp lâu dài, doanh nghiệp tư không thể tồn tại nếu tuân thủ theo luật pháp nghiêm chỉnh. Do đó, vấn đề then chốt là điều kiện nào để xuất hiện tầng lớp trung lưu đông đảo, mà thành tựu kinh tế không phụ thuộc trực tiếp vào quyền lực chính trị?

Thu nhập của tầng lớp trung lưu làm việc trong những công ty có vốn đầu tư ngoại quốc lệ thuộc vào nhiều điều kiện, trong đó mãi lực tiêu thụ của thị trường nội địa là yếu tố quan trọng nhất. Thu nhập của họ được tính theo giá trị tương đối theo mức thu nhập chung trong xã hội, chứ không phải theo giá trị tuyệt đối. Một người Việt Nam tài giỏi, dù mang lại giá trị gia tăng cho công ty đang làm việc nhiều hơn đồng nghiệp người nước ngoài, nhưng thu nhập vẫn thường phải thấp hơn. Với trình độ trí thức lao động trong xã hội ta hiện tại, khả năng nâng cao mãi lực tiêu thụ cho nước ta là:
- Được đầu tư công nghệ hiện đại, nâng cao năng xuất lao động.
- Gia tăng lực lượng lao động, tận dụng được nguồn nhân lực đông đảo đang làm nông nghiệp.
- Tìm được thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm xuất khẩu truyền thống, hiện tại chủ yếu là nguyên liệu thô.

Với những khả năng nâng cao mãi lực thị trường vừa nêu trên, số lượng người thuộc tầng lớp trung lưu luôn là một tỉ lệ cố định đối với lực lượng lao động phổ thông. Nếu không nâng cao được trình độ trí thức lao động phổ thông, tỉ lệ này sẽ rất nhỏ bé. Dù vậy, hiện nay nền kinh tế ta vẫn còn chứa đựng nhiều tiềm năng để nâng cao số lượng người thuộc tầng lớp trung lưu. Nền kinh tế nước ta chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô và sức gia công lao động để lấy ngoại tệ nhập khẩu thành phẩm cho nhu cầu tiêu dùng trong xã hội. Chính sách hiện nay là thu hút đầu tư ngoại quốc, tận dụng nguồn nhân lực thừa trong nông nghiệp và tìm cách gia tăng xuất khẩu. Điều này chỉ mang lại phần nhỏ thành phần trung lưu so với tổng dân số trong xã hội.

Quốc sách kinh tế hay nhất để gia tăng số lượng thành phần trung lưu là nâng cao trình độ trí thức lao động phổ thông và tự túc sản xuất thay cho thành phẩm tiêu dùng nhập khẩu. Muốn làm được điều này, cơ chế kinh tế phải ưu đãi các doanh nghiệp tư vừa và nhỏ chuyên sản xuất sản phẩm tương đương đang phải ngoại nhập. Nếu thi hành một cách nghiêm túc, nền kinh tế ta sẽ đạt được hai mục tiêu trên, thúc đẩy tiến trình hình thành tầng lớp trung lưu đông đảo. Tuy nhiên, điều này lại là nguy cơ “diễn biến hòa bình”, đe dọa đến khả năng độc tài của quyền lực chính trị. Trong xã hội ta hiện nay, doanh nghiệp tư nhân được phân chia độc quyền kinh tế nếu họ kinh tài hoặc giúp duy trì quyền lực cho đảng cầm quyền. Do đó, doanh nhân có công khai phá các hoạt động kinh doanh sinh lời cao, ít khi được tiếp tục phát huy sự thành công của họ. Bất kể tính ưu việt của sản phẩm hoặc dịch vụ đang cung cấp, nếu các thế lực chính trị mạnh muốn khai thác thị trường do họ khám phá, họ cần chấp nhận bị thao túng, hoặc phải âm thầm rút lui. Với thực trạng trên, nến kinh tế ta không thể tạo ra thành phần trung lưu đông đảo bằng cách phát huy nội lực thịnh vượng.

Lợi ích làm thành viên của WTO là gia tăng cơ hội xuất khẩu và đầu tư ngoại quốc, đều là những yếu tố làm gia tăng mãi lực thị trường. Tuy nhiên, điều mà đa số các nhà đầu tư ngoại quốc mong muốn là nước ta có trình độ trí thức lao động phổ thông khá, nhưng mãi lực thị trường yếu kém. Đó là nguồn gốc lợi nhuận của họ, lý do để họ đầu tư rủi ro vào xã hội đang tiềm ẩn nhiều nghịch lý và đầy mâu thuẫn như nước ta. Điều mà họ hoàn toàn không muốn xảy ra là đất nước ta trở thành một cường quốc, có khả năng cạnh tranh bình đẳng với họ và đủ sức tranh giành quyền lợi của họ. Thiệt thòi của cách doanh nghiệp tư vừa và nhỏ, làm ăn chân chính của ta, là sẽ phải vừa cạnh tranh trước tài lực dường như vô hạn của các công ty ngoại quốc, vừa luôn đối phó với quyền lực chính trị trong nước. Môi trường WTO buộc chính quyền nước ta không được can thiệp quyền lực chính trị, ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhà đầu tư ngoại quốc, chứ không hề bảo vệ quyền lợi của các doanh nhân trong nước trước những sự can thiệp tương tự. Vào được WTO chỉ ảnh hưởng đến độc quyền kinh tế, chứ không tước mất được đặc quyền kinh tế của đảng Cộng Sản. Kết quả là số lượng người thuộc thành phần trung lưu sẽ gia tăng, nhưng vẫn giữ tỉ lệ kiêm tốn so với tổng số lực lượng lao động phổ thông. Khi tầng lớp trung lưu còn là thiểu số, họ có quá nhiều thứ để mất, không thể là động lực tích cực thúc đẩy tiến trình tạo nên tự do chính trị cho xã hội ta.

2. Tự do chính trị là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế thịnh tiến:
Đây là điều kiện lý thuyết lý tưởng nhất, tuy chưa phải là phương thức thực tế hiệu quả nhất để duy trì quyền tự do chính trị non nớt lẫn phát triển nền kinh tế theo chiều hướng thịnh tiến, trong xã hội chưa ý thức đầy đủ về quyền tự do chính trị. Xét về phương diện lý thuyết, tự do chính trị là điều kiện tiên quyết để giải quyết thỏa đáng mọi mâu thuẫn trong xã hội theo chiều hướng thịnh tiến. Đó là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển để đạt được thành quả thịnh vượng tự chủ. Nền kinh tế càng đạt trình độ phát triển cao, quyền tự do chính trị càng được bảo đảm và trở nên phổ cập. Điều này là lịch sử phát triển của các quốc gia phương Tây. Tự do chính trị là điều kiện xúc tác ban đầu, sau đó thịnh vượng kinh tế và quyền tự do chính trị ngày càng gia tăng và củng cố lẫn nhau.

Ba Lan và Liên Bang Nga là ví dụ điển hình của hai quốc gia giành được quyền tự do chính trị sau thời gian dài bị quyền lực chính trị độc tài cai trị. Sau thời gian đầu đối phó với bao khó khăn trong nền kinh tế, thay đổi lớn trong quan hệ xã hội, Ba Lan đã duy trì và mở rộng được quyền tự do chính trị; trong khi đó Liên Bang Nga đang mất dần những quyền này. Xã hội chỉ duy trì được quyền tự do chính trị, khi người dân tích cực thi hành quyền tự do chính trị của họ. Quyền tự do chính trị của người dân chỉ có thực lực, khi họ nhận được lợi ích tương ứng từ quyền lợi kinh tế. Đa số họ cần phải nhận thức được rằng quyền tự do chính trị sẽ mang lại nhiều cơ hội về lâu dài hơn là những khó khăn ngắn hạn trước mắt. Nếu họ đặt lòng tin vào sức mạnh của chính quyền, tin rằng quyền lực chính trị luôn giải quyết mọi khó khăn trong đời sống kinh tế, họ sẽ tự đánh mất quyền tự do chính trị. Đa số người dân Nga đã chấp nhận điều này, nhưng người dân Ba Lan thì không.

Đối với những quốc gia vừa giành được quyền tự do chính trị, thử thách lớn nhất là phát triển được hình thức hữu hiệu để toàn dân thi hành và thể hiện quyền lực chính trị của họ. Hình thức phổ biến nhất, đang được thực hành hiện nay trên thế giới là thể chế dân chủ đại diện. Nền dân chủ đại diện là hình thức kém hoàn hảo, về mặt lý thuyết, để duy trì và củng cố quyền tự do chính trị. Dân chủ đại diện đòi hỏi thế lực đại diện phải có sự hỗ trợ đắc lực và có điều kiện qua lại từ các thế lực kinh tế. Do đó, sự đại diện trong quyền lực chính trị chỉ phục vụ quyền lợi kinh tế của những thế lực mạnh trong buổi giao thời. Mối liên kết truyền thống giữa quyền lực và quyển lợi vẫn chưa thể tách rời nhau. Thời điểm lúc giao thời là cơ hội tốt cho thiểu số đặc quyền chia giữ độc quyền kinh tế, dùng đó làm phương tiện để thao túng quyền lực chính trị. Thiểu số không có sự hỗ trợ của quyền lực kinh tế, muốn xây dựng sự nghiệp bằng cách bảo vệ quyền lợi chính đáng của đa số, sẽ không tìm được phương tiện để đeo đuổi và thực hiện tham vọng của họ. Đây sẽ là thử thách lớn nhất của xã hội ta trong buổi giao thời.

Nếu giành được tự do chính trị, thực tế nước ta sẽ không giống như Liên Bang Nga, vì đa số dân ta đều không trông cậy vào quyền lực chính trị hoặc tin tưởng vào chính sách nhà nước sẽ giúp đỡ được họ trong đời sống kinh tế. Hiện tại, tuy định hướng nền kinh tế là “xã hội chủ nghĩa”, phần lớn phúc hội xã hội đáng ra phải thuộc về trách nhiệm của nhà nước. Thế nhưng người dân ta vẫn phải tự túc mọi thứ theo phương châm “xã hội hóa” mọi phúc lợi công ích như y tế, giáo dục, và giao thông công cộng. Hơn nữa, xưa nay ở nước ta, kinh tế tư nhân không có sự can thiệp, “quan tâm” của quyền lực chính trị là điều đại phước. Tất cả doanh nhân giàu làm ăn chân chính đều không muốn chấp nhận địa vị giàu có của mình. Đa phần những người giàu, hay phô trương trong xã hội ta đều làm giàu bằng phương tiện bất chính, hoặc không cần kinh doanh dài hạn. Tóm lại, với tiềm năng kinh tế còn tiềm ẩn, chỉ mới đánh thức được phần nào, thêm vào nguồn tài lực sẵn có của kiều bào, tự do chính trị là điều kiện tiên quyết để chắp cánh cho nền kinh tế nước ta. Đặc điểm thuận lợi của nước ta là đa số người làm ăn lương thiện đều nhận thức được giá trị của quyền tự do chính trị. Hơn nữa, do bị nạn tham nhũng, tha hóa, và suy đồi về mọi mặt như hiện nay, nếu có được quyền tự do chính trị, nhiều người dân ta sẽ tích cực thực thi quyền lực công dân để góp phần làm triệt tiêu lẫn ngăn ngừa các quốc nạn đó. Khi người dân ý ta thức rằng quyền tự do chính trị có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi kinh tế, họ sẽ không đánh mất quyền lực đó, họ sẽ không để bất kỳ thế lực kinh tế nào thao túng được quyền lực chính trị.

3. Quan điểm của chúng tôi:
Tự do chính trị là nguyên tắc lý thuyết dẫn đến quyền tự do kinh tế và thịnh vượng tự chủ. Đó là hệ quả tất yếu của lịch sử phát triển nhân loại. Con đường thành cường quốc của đất nước ta nhanh hay chậm, nắm bắt được vận hội thời đại hay phải trông chờ vào cơ may của thời cuộc, còn tùy thuộc vào kết quả giải quyết mâu thuẫn trong xã hội ta. Nếu đa số dân ta bằng lòng với đời sống kinh tế thiết yếu, có được cơm ăn, áo mặc, nhu cầu giải trí cơ bản, họ sẽ chấp nhận những giải pháp tiêu cực như theo truyền thống xưa nay. Tầng lớp trung lưu có quá nhiều điều để mất, sẽ không thể tự chủ động đòi hỏi quyền tự do chính trị. Đây là con đường thụ động để thoát khỏi cảnh nghèo khó, sự lệ thuộc, hoặc họa nô lệ kinh tế một cách lâu dài, dai dẵng, và tốn kém nhất.

Do dân ta phải gánh chịu hy sinh, bị quá nhiều mất mát trong quá khứ, nay đang có được phần nào niềm hy vọng, đạt được chút dư thừa, họ sẽ không nhiệt tình với bất kỳ khuynh hướng làm thay đổi môi trường xã hội. Sau hai thập niên đổi mới, đa số dân ta đang kỳ vọng vào tiến trình thay đổi từng bước một về tự do chính trị. Dù đang thất vọng nhưng họ vẫn còn hy vọng ở lộ trình WTO, hy vọng về thịnh vượng kinh tế sẽ làm áp lực thay đổi môi trường chính trị. Thực tế là dù toàn dân ta đã bất mãn với hệ thống giáo dục vừa yếu kém, vừa tham nhũng, cũng như với hệ thống y tế công cộng vừa bất lực vừa vô tâm, họ vẫn chưa có được chút ảnh hưởng về quyền lực chính trị làm thay đổi chính sách lỗi thời của hai định chế trên. Dù điều này không trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lực chính trị của đảng Cộng Sản, được mang ra bàn cãi, tranh luận công khai, thế nhưng quyền hạn ảnh hưởng từ công chúng vẫn còn rất kiêm tốn. Do đó, nếu cần phải đánh động đến quyền lực chính trị độc tài, kết hợp với truyền thống tránh né mâu thuẫn, tiến trình tự do chính trị của xã hội ta sẽ là con đường dài, chông gai, và cần rất nhiều thời gian. Khi đó đối đầu trước những hiểm họa đáng bi quan sẽ được khảo sát kỹ hơn trong chương XII (“Thử thách và vài dự đoán bi quan cho tương lai Việt Nam”), đất nước ta sẽ không nắm được vận hội thời đại, hoặc có được cơ may thời cuộc để tự vươn lên. Do đó, quan điểm bi quan của chúng tôi là con đường tưởng chừng ít tốn kém nhất, hạn chế mất mát được nhiều nhất. là thụ động chờ thịnh vượng kinh tế sẽ cởi trói lần sự ràng buộc chính trị, để tiếp tục thúc đẩy sự thịnh vượng, thực ra là con đường mà dân ta sẽ phải trả giá đắt nhất, gây nên thiệt hại nhiều nhất. Nếu trong thập niên tới, mà nước ta vẫn chưa giải quyết được khủng hoảng nghành giáo dục và y tế, chúng tôi nghĩ rằng quan điểm bi quan nêu trên là sự thật khó lòng chối bỏ.

Nếu chỉ có một thành phần trong xã hội ta giữ vai trò tích cực trong quá trình tranh đấu tự do chính trị, kết quả sẽ khó mang lại quyền tự do chính trị tức thời. Nếu chỉ một giai cấp có công làm thay đổi cơ chế chính trị, giai cấp đó sẽ trở thành đảng cầm quyền độc tài. Nhà sử học người Anh, ông Lord Acton đã nhận xét như vậy, quyền lực chính trị không thể thuộc quyền đặc nhiên của bất kỳ giai cấp nào, “quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến tha hóa tuyệt đối”. Hiện nay, xã hội ta là phần nào hình ảnh của xã hội Trung Quốc mười năm về trước. Tuy nhiên thành tựu thịnh vượng thuộc về mặt nổi của Trung Quốc, sẽ khó trở thành hiện thực cho nước ta; những mâu thuẫn, xung đột về mặt trái của xã hội Trung Quốc, lại luôn trở thành thực tế đáng lo ngại cho nước ta. Nếu phải đợi đến bạo động, kéo theo bạo động, mới giải quyết được phần nào các mâu thuẫn trong xã hội, hậu quả đối với nền kinh tế và đất nước ta sẽ khó lường trước được. Do đó, phương thức tích cực nhằm mang lại quyền tự do chính trị cho xã hội ta cần theo những nguyên tắc sau:

Phải tập hợp được nhiều thành phần trong xã hội đấu tranh để giành quyền lực chính trị cho giai cấp họ. Không lòng đoàn kết nào bền vững bằng mối liên kết từ quyền lợi kinh tế. Không lòng thống nhất nào lại khó chia rẽ bằng mối liên hiệp do tương đồng về quan điểm chính trị. Tập hợp được lòng thống nhất sẽ xây dựng được lòng đoàn kết.

Phải thành lập đảng chính trị đối lập trong đó lực lượng nòng cốt phải bao gồm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, có sức chế tài lẫn nhau, thực thi được sinh hoạt dân chủ trong nội bộ đảng, tích cực tập hợp lòng thống nhất và chủ động xây dựng lòng đoàn kết của toàn dân. Đối với lực lượng nòng cốt, họ đều là những người tham vọng cá nhân cao, gia nhập đảng đối lập là phương thức duy nhất để xây dựng sự nghiệp chính trị cho cá nhân họ.

Đấu tranh bất bạo động để mang lại quyền lợi chính đáng cho mọi thành phần đang bị thiệt thòi, chèn ép bởi mâu thuẫn trong đời sống hàng ngày. Đó là cách thức hiệu quả nhất để từng bước mang lại thay đổi chính trị, nhằm đạt đến mục tiêu tối hậu là tự do chính trị lẫn kinh tế cho xã hội ta.

Chương XIII (“Phương thức thay đổi môi trường chính trị Việt Nam”) bàn về những phương thức cụ thể để thành lập và phát triển đảng đối lập cho nước ta.

4. Tự do chính trị và xã hội nhân bản:
Quan hệ người sẽ dẫn đến mâu thuẫn. Tự do chính trị là điều kiện tiên quyết để giải quyết mọi mâu thuẫn trong xã hội một cách thỏa đáng, theo chiều hướng thịnh tiến. Xã hội có được tự do chính trị sẽ là xã hội có tính nhân bản cao. Cạnh tranh kinh tế là đấu trường nghiệt ngã trong đó hàng ngàn người tham gia chỉ có được vài thiểu số giành trọn phần thắng. Xã hội nhân bản là xã hội không ép buộc những người thắng cuộc phải chia xẻ lợi nhuận thu được cho những kẻ kém may mắn, mà là xã hội tạo được nhiều điều kiện thuận lợi để những người thua cuộc tìm thấy đấu trường thích hợp với tài năng và năng lực của họ. Xã hội phải có tự do chính trị mới xây dựng được xã hội nhân bản, nhưng xã hội nhân bản không thể là hệ quả tự nhiên của xã hội có tự do chính trị. Xã hội nhân bản chỉ thành hiện thực, khi phần lớn dân số đều ý thức được trách nhiệm của cá nhân và chỉ nhận trợ giúp khi thất cơ lỡ vận. Xã hội ta khi đã thiết lập được quyền tự do chính trị phổ cập và chín chắn, sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng thành công một xã hội nhân bản. Đó sẽ là lợi thế văn hóa rất đắc lực, để tranh giành ảnh hưởng sau khi nước ta đã trở thành một cường quốc.