Chương III: Tự Do và Các Nguyên Tắc Tự Do
Chương III: Tự Do Và Các Nguyên Tắc Tự Do
Nguyên tắc căn bản phổ biến nhất của quyền tự do là: người được tự do khi có toàn quyền thực hiện ý tưởng của mình nếu hành động không dẫn đến hậu quả làm vi phạm đến quyền tự do của người khác. Suy rộng ra phạm vi cộng đồng người hay dân tộc, tự do còn là quyền thực hiện ý nguyện của đa số mà không được vi phạm đến quyền tự do của thiểu số. Quyền tự do là một tổng thể thống nhất gồm các quyền liên đới đó là: tự do chính trị, tự do tư tưởng, tự do cá nhân, và tự do kinh tế. Khi thể thống nhất của quyền tự do đã bị phân chia, sự tự do chỉ còn là hình dạng nhưng không trọn bản chất, đó là quyền tự do giả tạo. Quyền tự do được thể hiện trong cuộc sống bằng quyền tự chủ và đó cũng chính là điều kiện thiết yếu để đạt được tính tự chủ. Người nào có được quyền tự do mới có được khả năng tự chủ trong cuộc sống.
Xã hội càng đông và có tổ chức, khả năng tiếp xúc, va chạm dẫn đến mâu thuẫn giữa mọi người càng lớn, quyền tự do đúng nghĩa của mỗi người càng phải bị thu hẹp. Đây là một trong những yếu tố làm cản trở quyền tự do thực thụ cho mọi dân tộc trên thế giới. Đối với nhiều người, có nhiều tiền của mà không đánh đổi được quyền sai kiến tùy tiện, mua lấy cách phục dịch tùy thích, hoặc hưởng thụ sự hầu hạ tùy nghi, đó chẳng khác gì bị cô đơn trong một kho tàng hiu quạnh. Bởi lẽ đó, giàu có mấy về của cải vật chất vẫn không thể bì được với khả năng lấn áp lên quyền tự do của người khác, mở rộng thêm quyền tự do cho riêng mình. Xã hội sống cộng sinh, luôn phát sinh khoảng cách phân hóa giàu nghèo nên không thể tránh khỏi sự bất bình đẳng về quyền tự do. Đa số người phải tự nguyện đánh đổi phần nào quyền tự do của mình để kiếm lấy nhu cầu thiết yếu cho bản thân và gia đình. Sinh ra làm người, ai cũng biết quý trọng quyền tự do của chính mình. Không cần chuẩn mực chung, người nào cũng nhận thức được sự thiệt thòi, mức áp bức, độ tủi nhục, và nỗi lầm than đối với bản thân nếu họ bị hạn chế, hoặc phải hy sinh quyền tự do vì nhu cầu sống. Xã hội tự do thực thụ không chỉ là xã hội đơn thuần đề ra những quyền tự do của con người, mà còn là nơi mà người dân không thể bị bất kỳ thế lực nào triền miên chèn ép, áp đặt, cưỡng đoạt, hoặc cướp mất quyền tự do trong lúc làm ăn sinh sống cũng như khi mưu cầu hạnh phúc.
Có thể ví quyền tự do như là một chiếc bánh, chia xẻ không đồng đều ắt có kẻ hưởng lợi trên sự thiệt thòi của người khác. Khác với thịnh vượng về vật chất, chiếc bánh tượng trưng cho quyền tự do ấy không thể làm to ra để mọi người được thêm quyền tự do. Muốn vậy, họ hoặc phải chia xẻ quyền tự do cho nhau hoặc phải giành giật quyền tự do của nhau. Xã hội muốn duy trì động lực phát triển, buộc phải tồn tại khoảng cách phân hóa giàu nghèo, do đó sẽ tồn tại sự bất bình đẳng về quyền tự do. Như vậy, chừng mực bất bình đẳng đó phải như thế nào để không thể có kẻ hưởng lợi mãi mãi và người phải chịu thiệt thòi vĩnh viễn? Xã hội càng phát triển và trình độ tổ chức càng cao, mức bất bình đẳng đó càng khó xác định chính xác, vì thế các biện pháp nhằm duy trì giá trị tự do cho xã hội càng dễ xâm phạm vào quyền tự do riêng của người dân. Biện pháp lý tưởng nhất là làm mọi người tự nguyện chia xẻ quyền tự do cho nhau, thay vì xâm phạm hoặc tệ hơn là cưỡng đoạt quyền tự do của nhau. Chương này sẽ khảo sát những vấn đề gây nên sự bất bình đẳng trong các quyền tự do liên đới và tìm hiểu vài nguyên tắc quan trọng trong các biện pháp đã và đang áp dụng ở những quốc gia thiết lập được nền tự do thực thụ. Mục đích là rút tỉa các kinh nghiệm hay từ họ để xây dựng một nền tảng tự do thật sự đúng nghĩa cho một dân tộc đã trả giá quá đắt cho các giá trị tự do, nhưng hiện vẫn chưa thụ hưởng được phần nhỏ nào từ các giá trị ấy.
-
Liệt Kê Các Quyền Tự Do Tiêu Biểu:
Quyền tự do không thể bị phân chia, gồm các quyền liên đới là tự do chính trị, tự do tư tưởng, tự do cá nhân, và tự do kinh tế. Quyền lợi về tự do chính trị, tư tưởng và cá nhân đều thuộc về các giá trị công bằng tuyệt đối, nên đó là những quyền tự do tuyệt đối. Quyền lợi về kinh tế không thể đạt đến mức công bằng tuyệt đối, nên đó chỉ là quyền tự do tương đối. Vấn đề công bằng sẽ được thảo luận kỹ trong chương IV (“Công bằng và các nguyên tắc công bằng”). Tính tuyệt đối ở đây không phải là chân lý bất biến, mà là những quyền và giá trị không thể bị xâm phạm xuyên suốt chiều dài thời gian tồn tại của một nền văn hiến. Quyền tuyệt đối là quyền phải có, được quyền lực của toàn xã hội bảo đảm vĩnh viễn, không thể bị thế lực nào khác trong xã hội thay đổi, tước đoạt, hoặc xâm phạm. Quyền tương đối là quyền được chính quyền ban cho, do đó bị lệ thuộc vào chính sách nhất thời của chính quyền ấy.
Tự do chính trị là những quyền cụ thể như sau:
-
Quyền được quyết định hoặc ảnh hưởng đến mọi qui định về Hiến pháp và pháp luật trong xã hội.
-
Quyền được quyết định hoặc ảnh hưởng đến sự bổ nhiệm lẫn bãi nhiệm thành phần lãnh đạo trong các cơ cấu tổ chức quyền lực chính trị trong xã hội.
-
Quyền được tự do tập hợp biểu tình, bày tỏ quan điểm chính trị.
-
Quyền được thành lập đảng phái chính trị và tham gia vào các cơ cấu tổ chức quyền lực chính trị trong xã hội.
Tự do tư tưởng là những quyền cụ thể như sau:
-
Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.
-
Quyền tự do tôn giáo.
-
Quyền tự do truyền bá và hấp thụ tư tưởng.
Tự do cá nhân là những quyền cụ thể như sau:
-
Quyền không bị vô cớ tước đoạt tự do, không bị thành kiến khi xét xử và phải được xét xử công bằng.
-
Quyền được tôn trọng và được bảo vệ tuyệt đối quyền làm người trước mọi thế lực trong xã hội.
-
Quyền được sống, quyền được bảo toàn thân thể lẫn danh dự.
-
Quyền tự do đi lại, tự do trong mọi việc riêng tư.
Tự do kinh tế là những quyền cụ thể như sau:
-
Quyền được tư hữu và sử dụng của cải tư hữu.
-
Quyền được tìm kiếm và hưởng thụ nhu cầu sống.
-
Quyền tự do trao đổi.
-
Quyền tự do cạnh tranh và được cạnh tranh công bằng.
-
Quyền được hưởng quyền lợi từ thành quả sáng tạo và lao động.
-
Quyền được bảo vệ quyền lợi kinh tế chính đáng.
-
Quyền tranh đấu để tự bảo vệ quyền lợi kinh tế chính đáng.
-
Quyền Tự Do Chính Trị
Chính quyền là công cụ chính trị nhằm giải quyết một cách có trật tự các mâu thuẫn trong quan hệ người theo một khuôn phép nhất định. Con người phải từ bỏ lối sống đơn lẽ, đầy phóng khoáng với nhiều quyền tự do riêng trong thời sơ khai sau khi tiến hóa lên cuộc sống cộng sinh, chịu gò bó theo bao phép tắc, luật lệ của một xã hội có tổ chức. Người ta phải chấp nhận những sự thiệt thòi đó để đánh đổi tính thất thường, dã man trong thời sơ khai bằng cuộc sống ổn định và trật tự an ninh của xã hội có tổ chức. Phỏng theo hình tượng phân chia chiếc bánh tự do, quyền lực của chính quyền là phần tổng hợp từ mọi khoảng thiệt thòi về quyền tự do của toàn dân trong xã hội. Người dân bị hạn chế hoặc mất đi phần nào quyền tự do riêng để chính quyền có đủ quyền lực thực hiện chức năng làm công cụ chính trị. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến sự bất bình đẳng về quyền tự do chính trị.
Chính quyền do nhiều con người với đủ thói hư tật xấu điều hành thay vì là những người thánh thiện đầy mẫu mực thừa hành các chức năng đã định sẵn. Lòng tham của cải vật chất nếu là không đáy thì lòng ham muốn đặc quyền được lấn áp hoặc chiếm đoạt lên quyền tự do của nhiều người khác còn lớn hơn vạn lần. Đấy là thứ quyền lực áp đoạt, nếu được lựa chọn, chắc chắn sẽ có nhiều người chọn thứ quyền lực ấy thay vì giàu có về của cải vật chất. Ngoài lợi ích hiển nhiên là quyền lực nói chung sẽ mang lại của cải, đối với nhiều người, quyền lực áp đoạt lên người khác mang đến độ khoái lạc trong sự hưởng thụ; vô giá vượt trội so với tính nhàm chán và vô cảm từ vật chất. Đây là bản chất không thể thay đổi được của con người, do đó hễ có quyền cao chức trọng, không ít thì nhiều, người ta sẽ lạm dụng quyền lực trong chức vụ để nương ngã theo bản năng đó. Bởi thế nên vấn đề ở đây là không phải tìm người đạo đức, liêm chính vào nắm giữ quyền lực trong chính quyền, mà là làm sao để họ không thể lạm dụng được quyền lực trong chức vụ vì mục đích riêng. Quan chức chính quyền không sớm thì muộn cũng sẽ bị quyền lực làm tha hóa. Đó không phải do đạo đức con người bị suy đồi, mà là do họ không thể kìm hãm nổi lòng ham muốn mở rộng quyền tự do riêng cho bản thân và gia đình.
Quan chức chính quyền phải nắm giữ quyền lực mới thi hành được công vụ, điều hành xuông xẻ guồng máy chính quyền. Nếu khó hoặc không bị chế tài, cá nhân quan chức sẽ dễ dàng trở thành hiện thân của quyền lực từ chính quyền thay vì đóng vai trò làm đại diện. Quyền lực áp đoạt càng gia tăng với cấp bực chức vụ, từ đó kéo theo phạm vi của quyền tự do riêng. Chính quyền phong kiến châu Á là ví dụ điển hình của quyền lực tập trung đến mức tuyệt đối và không thể bị chế tài. Trong xã hội phong kiến không ai bảo vệ nổi quyền tự do riêng nào của mình trước nhà vua, cũng như không ai dám thực thi quyền tự do của mình hơn nhà vua. Quan hệ đạo đức với khuôn mẫu minh quân là biện pháp duy nhất để nhà vua tự hạn chế các quyền tự do của mình, từ đó chế tài được các quan đại thần lân cận trong triều; qua đó kiểm soát được quyền hạn của mọi quan chức chính quyền. Bởi vậy, thời đại nào có được minh quân biết tự hạn chế mình, thời đó quyền tự do của người dân ít bị áp đoạt. Muốn xóa bỏ sự bất bình đẳng về quyền tự do chính trị, điều kiện quan trọng nhất là cơ cấu chính quyền phải chế tài hiệu quả được mọi quan chức đang nắm giữ quyền lực. Được như vậy, quan chức mới đảm nhận vai trò đại diện cho chính quyền, chứ không thể đồng hóa được bản thân họ với chính quyền. Ngoài phạm vi công vụ, họ đều là những công dân bình thường như mọi người dân khác trong xã hội.
Có thể nhận xét rằng, chính quyền tồn tại là để bảo vệ quyền tự do cho thành phần nào đó trong xã hội. Chính quyền phong kiến, thực dân, hoặc độc tài đều ban cho thành phần cai trị nhiều đặc quyền tự do một cách công khai. Từ ngàn xưa, đây là điều mặc nhiên chấp thuận, thường gắn liền với quyền lợi huyết thống, áp đặt lên mọi người như số mệnh phải tuân theo, như quy luật “mạnh được yếu thua” trong thiên nhiên. Người dân bị tước mất phần lớn quyền tự do, mà không thể đòi hỏi lẽ công bằng. Trong thời gian cận đại, tiến bộ trong tư tưởng đã thúc đẩy nhân dân nhiều nước đứng lên làm cách mạng xóa bỏ đặc quyền tự do của giai cấp thống trị. Ngày nay, rất ít chính quyền có khả năng tồn tại nếu không nhân danh bảo vệ quyền tự do của người dân. Tuy vậy, số lượng dân tộc trên thế giới có được quyền tự do thực thụ hiện vẫn đang chiếm tỉ lệ rất kiêm tốn. Nguyên nhân của nghịch lý đó là chỉ có số ít chính quyền bảo vệ quyền tự do riêng của mỗi người dân; trong khi đó số nhiều lại chú trọng đến quyền tự do chung cho toàn dân. Khi mỗi người dân đều được bảo đảm quyền tự do riêng, họ sẽ khó từ bỏ các quyền hạn đó vì những mục đích chung. Ngược lại, nếu chính quyền tiếm danh, lạm quyền, không người dân nào lại tự bảo vệ nổi các quyền hạn đó trước những giá trị tự do chung. Nhân dân ở xã hội tự do thực thụ được quyền chống đối mọi chính sách của chính quyền, dù đó mang lại lợi ích chung hay hệ trọng đến nền an ninh quốc gia. Trái lại, ở xã hội tự do hình thức, không ai được quyền phản đối chính sách có tính cách ích quốc lợi dân hay quan hệ đến nền an ninh quốc gia. Sự khác biệt căn bản đó quyết định tính thực thụ và chính danh của quyền tự do. Xã hội nào mà có chính quyền tách biệt được rõ ràng phạm trù của quyền tự do riêng với các giá trị tự do chung, xã hội đó đã thiết lập được nền tảng vững chắc cho quyền tự do thực thụ.
Ở nước ta, đảng Cộng Sản giành được chính quyền là nhờ có sức mạnh kỷ luật trong một tổ chức được che giấu dưới ngọn cờ tranh đấu cho quyền tự do dân tộci. Đây là mục tiêu phù hợp với nguyện vọng của toàn dân trong hoàn cảnh đất nước dưới ách thống trị của ngoại bang. Có bao lớp người đã không ngần ngại hy sinh xương máu vì mục tiêu đó, bởi lẽ quyền tự do của dân tộc sẽ phải dẫn đến quyền tự do của từng người Việt Nam. Đó là ngộ nhận lớn nhất của các thế hệ đã dấn thân theo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do đảng Cộng Sản lãnh đạo. Trong thời kỳ đấu tranh, mục tiêu đó là lý tưởng chung, thu hút và tổng hợp sức mạnh dân tộc, làm nên lịch sử, đập tan ách thống trị của thực dân; lúc thành công, mục tiêu đó lại là đặc quyền riêng, trở thành công cụ đắc lực để đảng Cộng Sản duy trì thể chế chính trị độc tài và độc đoán. Quyền tự chủ của dân tộc bị đồng hóa với quyền tự chủ của chính quyền. Chính quyền là đất nước và đảng Cộng Sản là chính quyền, đó là sự đồng hóa bằng danh nghĩa, là tiền đề để tiếm đoạt các giá trị tự do. Tiêu chuẩn đạo đức của người cộng sản không thể ngăn ngừa được cá nhân họ dùng danh nghĩa và quyền lực đảng phái để tư lợi. Họ không phải là thần thánh đến mức để không thể bị quyền lực làm tha hóa. Đa số họ hiện nay không còn có đủ tầm nhận thức để bằng lòng với nhiều đặc quyền tự do đang được thụ hưởng. Hiến pháp lẫn luật pháp nước ta hiện nay không thể bảo vệ nổi quyền tự do riêng của công dân trước những chủ kiến sai trái của thiểu số đang nắm giữ quyền lực. Sau hơn ba mươi năm hòa bình, kẻ thù của đảng Cộng Sản, thậm chí cá nhân đảng viên, vẫn dễ bị đánh đồng với nguy cơ và nguy hại đối với nền độc lập tự do của đất nước. Với mức độ lạm dụng danh nghĩa lớn đến như vậy, không ai bảo vệ nổi quyền tự do riêng của mình nếu bị thế lực mạnh nào đó lạm dụng quyền hành xâm phạm hoặc áp đoạt. Hậu quả là, rất ít người dân ta nhận thức được rõ ràng đâu là đặc quyền tự do riêng, bất khả xâm phạm dù đối nghịch trước các thế lực mạnh; đâu là giới hạn của quyền tự do riêng, vi phạm có thể gây phương hại đến các giá trị tự do chung. Dân tộc ta tuy đã giành được độc lập, tự do cho đất nước, nhưng quyền tự do riêng của mỗi người dân hiện nay, có thể nói, còn tệ hơn thời gian bị đô hộ. Xã hội mà có thiểu số người không bị hạn chế quyền tự do riêng, toàn quyền hành xử trên danh nghĩa bảo vệ tự do chung, và được lạm quyền chà đạp lên các giá trị tự do riêng, đó là xã hội tự do giả mạo. Xã hội nước ta là một xã hội có đủ mọi điều kiện điển hình như vậy.
Quyền tự do của mỗi người dân Việt Nam lệ thuộc vào chủ kiến của quan chức chính quyền, nhận định đó không phải là vô căn cứ, thiếu bằng chứng thuyết phục. Hiến pháp của chính quyền hiện nay tuy qui định khá đầy đủ các quyền tự do của người dân, nhưng không quyền nào trong đó lại là quyền tuyệt đối, không thể bị xâm phạm. Tất cả quyền bất khả xâm phạm trong Hiến pháp đều dành riêng cho đảng Cộng Sản. Các quyền quan trọng điển hình như quyền điều hành đất nước hoặc quyền sử dụng danh nghĩa tự do đều được Hiến pháp qui định rõ là quyền tuyệt đối và thuộc độc quyền của đảng Cộng Sản. Thêm vào đó, toàn văn bản Hiến pháp không hề có điều khoản nào bảo vệ quyền tự do của người dân trước mọi quyền hành của chính quyền. Tinh thần bản Hiến pháp đó đã đưa đến thực trạng xã hội ta hiện nay là quyền tự do của người dân chỉ là thứ yếu, luôn bị quyền lực của đảng Cộng Sản chi phối. Như vậy quyền hành của đảng Cộng Sản ngày nay thật không khác gì quyền lực nhà vua thời phong kiến. Điểm khác biệt lớn nhất là cá nhân nhà vua có thể bị luận tội vì đã làm sai, nhưng tập thể đảng Cộng Sản thì không thể bị kết tội, dù mức độ vi phạm còn nghiêm trọng hơn. Đảng Cộng Sản là đoàn thể gồm nhiều đảng viên, dùng quyền lực Đảng để điều hành guồng máy chính quyền. Một khi đảng Cộng Sản đứng ngoài và được ngồi trên luật pháp, thì trách nhiệm pháp lý của mỗi đảng viên, với tư cách là người đại diện Đảng, phải như thế nào? Nếu có đảng viên lạm quyền, dùng quyền lực Đảng phục vụ lợi ích riêng, xét về mặt luật pháp, người đó chỉ vi phạm luật lệ Đảng chứ không hề phạm pháp. Hiện nay, quá trình xét xử hành vi của đảng viên có vi phạm pháp luật hay không, phải có sự chấp thuận của đảng Cộng Sản trước, sau đó mới được mang ra truy tố trước pháp luật. Giả sử rằng luật pháp có điều khoản xử lý đảng viên sai phạm, nếu người đó dùng quyền lực Đảng vì lợi ích Đảng nhưng đi ngược với quyền lợi của dân, thì quyền lực nào đủ mạnh để kết tội người đại diện Đảng, một cách gián tiếp vi Hiến phủ nhận quyền lực tuyệt đối của Đảng? Mặt khác, ai sẽ có thẩm quyền xác định nguyên nhân sai phạm bởi do trục lợi cá nhân hay vì lợi ích Đảng? Khi Hiến pháp đã qui định rõ quyền lực tuyệt đối của đảng Cộng Sản, thì đảng viên chỉ có thể bị truy tố trách nhiệm pháp lý thông qua luật lệ Đảng, chứ không thể bằng luật pháp xã hội. Phép tắc đảng Cộng Sản chỉ có vài biện pháp chế tài; luật pháp xã hội ta lại có đủ mọi hình phạt khắc khe. Đảng viên phải tuân theo khuôn mẫu đạo đức Cộng Sản và bị kiểm soát bằng hình thức “phê bình và tự phê bình”. Biện pháp kỷ luật thông thường để xử lý đảng viên vi phạm điều lệ Đảng là “xử lý nội bộ”, hay “thuyên chuyển công tác”; rất hiếm bị khai trừ đảng tịch. Trong thời phong kiến, chỉ cần một minh quân là có thể làm trong sạch cả triều đình. Ngày nay, số lượng đảng viên sâu mọt trong đảng Cộng Sản chỉ có gia tăng, chứ không thể suy giảm. Cơ chế tổ chức của đảng Cộng Sản ràyii chỉ mang lại một kết quả duy nhất: đảng viên sâu mọt sẽ tiến cử đảng viên sâu mọt, trong khi đó đảng viên gương mẫu phải trở thành sâu mọt hoặc sẽ bị loại trừ. Bởi vậy, chính nhờ ở quyền lực tuyệt đối của đảng Cộng Sản mà quan chức chính quyền, đều là đảng viên, mới nắm được trong tay đặc quyền ban phát quyền tự do cho mỗi người dân Việt Nam. Quyền tự do đó là quyền tự do tương đối, chính quyền, thực tế là đảng Cộng Sản, muốn ban “cho” thì người dân mới được phép “có”; bản chất thực của nó là thứ tự do “xin cho”. Đấy là nền tảng của quyền tự do trong xã hội ta hiện nay.
Ngày nào mà đảng Cộng Sản còn nắm giữ quyền lực tuyệt đối, được ngồi trên Hiến pháp và luật pháp, ngày đó xã hội ta còn là xã hội tự do giả mạo và quyền tự do của dân ta vẫn mãi là thứ “xin cho”. Xã hội mà người dân phải cầu lụy vì quyền tự do của mình, không tự chủ nổi được bản thân, là xã hội lạc hậu, trì trệ, lẫn quẫn không lối thoát. Từ khi đảng Cộng Sản đổi quyền lực lấy quyền lợi, càng nới rộng quyền tự do cho dân ta, họ càng được hưởng lợi; nhờ đó mà đất nước mới đạt thêm nhiều thành tựu mới. Họ biết rằng nếu quá tham quyền lợi, họ sẽ mất dần quyền lực, nên đảng Cộng Sản vẫn còn duy trì chế độ kiểm soát chặt chẽ lên mọi quyền tự do đã được nới lỏng, dù đó là quyền tự do cá nhân hoặc tự do kinh tế. Họ cho phép người dân được chỉ trích hầu hết chính sách của chính quyền, nhưng tiếp tục siết chặt thêm quyền tự do tư tưởng, tự do cá nhân, và tự do chính trị của những người dám manh động đến quyền lợi của đảng Cộng Sản. Những người đó bị cấm đoán tuyệt đối mọi hoạt động tư tưởng và chính trị, nếu vi phạm, phải gánh chịu đủ loại hình phạt hà khắc. Tại sao lại có nghịch lý là một dân tộc đã không ngại hy sinh xương máu, vùng lên tranh đấu cho các giá trị tự do; nay lại thụ động để mất lần nhân phẩm, phải cam chịu bị tước mất nhiều quyền tự do đến như vậy? Sỡ dĩ tồn tại nghịch lý đó là vì người dân ta hoàn toàn bí lối, không có cách bảo vệ quyền tự do của riêng mình trước các giá trị tự do chung mà đảng Cộng Sản muốn áp đặt. Hoàn cảnh lịch sử đã cho phép đảng Cộng Sản giành lấy độc quyền sở hữu danh nghĩa tự do, nên ngày nay họ mới có toàn quyền lạm dụng lên các giá trị tự do. Khi tập thể đảng viên Cộng Sản đã bị tha hóa, nếu không quyền lực nào lay chuyển nổi quyền hành của họ, thì thiểu số lãnh đạo Đảng dẫu có đầy đủ tài đức, giàu lòng quyết tâm, vẫn không thể cải tổ làm trong sạch được bộ máy Đảng. Nếu xuất hiện thiểu số như vậy, tập thể đảng viên tha hóa sẽ ra sức đánh bóng, hầu thắp sáng niềm hy vọng trong lòng dân về khả năng tự cải tổ trong nội bộ đảng Cộng Sản. Thực chất của vấn đề là bằng quyền lực nào để thiểu số lãnh đạo tước đoạt được đặc quyền đặc lợi của đa số đảng viên đang nắm giữ vị trí then chốt của hệ thống quyền lực? Bởi vậy, muốn tạo nên quyền lực đủ mạnh để truất phế quyền hành đảng cầm quyền, mọi người dân trong xã hội phải có được quyền tự do chính trị. Đối với hiện trạng nước ta, tiền đề để thiết lập nền tảng cho quyền tự do chính trị là danh nghĩa tự do phải thuộc về toàn dân, chứ không thể là độc quyền sở hữu của bất kỳ đảng phái nào; dù đó là đảng đã đóng góp nhiều trong vai trò lãnh đạo nhân dân giành lấy nền độc lập, tự chủ cho đất nước. Chỉ khi nào dân ta có được quyền tự do chính trị, khi đó xã hội ta mới có cơ hội trở thành một xã hội tự do thực thụ và quyền tự do của mỗi người dân ta mới trở thành quyền tuyệt đối.
Thế nào là quyền tự do chính trị? Mô phỏng từ hình tượng phân chia chiếc bánh tự do, quyền lực của chính quyền là phần tổng hợp từ mọi khoảng thiệt thòi về quyền tự do của toàn dân trong xã hội. Như vậy, quyền tự do chính trị là quyền được sử dụng tối đa quyền lực ấy của chính quyền, dùng để bảo vệ mọi quyền tự do tuyệt đối của bản thân; cũng như mang ra phục vụ cho lợi ích riêng, hầu bù đắp lại phần-nào khoảng tự do đã bị thiệt thòi đó. Người nào càng có được nhiều quyền tự do chính trị, họ càng không cảm thấy bị mất bình đẳng, ít nhận thức được mức thiệt thòi, hoặc chẳng hề biết đến độ áp bức về quyền lực chính trị trong xã hội. Họ không cần cầu lụy hoặc phải lo sợ trước bất kỳ thế lực nào trong xã hội khi cần được bảo vệ các quyền tự do của bản thân. Đây là thước đo về tính thực thụ chính-xác và trung thực nhất của quyền tự do chính trị. Xã hội có quyền tự do chính trị là xã hội mà mọi người đều gần như bình đẳng với nhau khi xét theo mực thước đó. Thêm vào đó, quyền lực chính quyền không còn là độc quyền của một thành phần nào đó trong xã hội, mà lệ thuộc vào kết quả chọn lựa của toàn dân. Bất kỳ ai muốn tham gia nắm giữ quyền lực trong chính quyền, đều cùng phải trải qua quá trình tuyển lựa minh bạch, mang tính công bằng cao. Bởi vậy, nếu một xã hội muốn chuyển bước trở thành xã hội có quyền tự do chính trị, thành phần đang nắm giữ quyền lực là những người sẽ bị tước mất nhiều đặc quyền tự do nhất. Họ sẽ không thể sử dụng bừa bãi quyền lực ngoài qui định của pháp luật, hết còn quyền được coi thường luật pháp, và tệ hại nhất là có thể bị truất phế, để mất quyền lực vào tay người khác. Chính vì lẽ đó nên quyền tự do chính trị không thể là quyền tự nhiên được thành phần nắm giữ quyền lực ban phát hoặc “xin cho”, mà đó là kết quả từ nỗ lực tranh đấu hết-mình của mọi người trong xã hội. Bài học lịch sử của đảng Cộng Sản đã cho thấy, quyền tự do chính trị chỉ là ảo ảnh nếu guồng máy chính quyền không tạo nổi điều kiện để xuất hiện quyền lực đối lập với đầy đủ khả năng và sức mạnh chính trị. Một đảng cầm quyền không bị đối lập, về lâu về dài sẽ trở nên tha hóa, dù rằng trong quá khứ đã tranh đấu cho những lý tưởng cao đẹp. Thời gian sớm hay muộn hoàn toàn tùy thuộc vào thế hệ đảng viên kế thừa có hiểu thấu được giá trị thực mà những lý tưởng ấy đòi hỏi, hay chỉ biết vay mượn và rêu rao lên danh nghĩa, giành độc quyền đại diện cho sự cao đẹp từ các lý tưởng đó.
Sau đây là những nguyên tắc cần thiết để duy trì được lâu dài quyền tự do chính trị của mọi người trong xã hội hoặc gọi gọn hơn là nguyên tắc tự do chính trị. Những nguyên tắc này được rút tỉa ra từ kinh nghiệm của các nước đã thiết lập được quyền tự do chính trị.
-
Chính quyền tồn tại là để bảo vệ quyền tự do của mỗi người dân trong xã hội. Không một ai bị buộc phải hạn chế hoặc hy sinh bất kỳ quyền tự do riêng nào vì những lợi ích chung.
-
Quyền tự do tuyệt đối phải gắn liền với các giá trị tuyệt đối. Chính quyền không thể dùng danh nghĩa của quyền tự do chung để thay đổi giá trị của các quyền tự do tuyệt đối, dù điều này thiết yếu cho thời điểm lịch sử lúc đó.
-
Người dân phải có các quyền tự do tuyệt đối rõ ràng, không thể bị xâm phạm. Chính quyền phải có sự đồng thuận của đa số dân mới được quyền tạm thời hạn chế các quyền tự do ấy, nếu điều này phù hợp với thời điểm lịch sử lúc đó.
-
Người dân nếu phải chịu thiệt bất kỳ quyền tự do nào bởi vì yêu cầu của thời đại cần làm gia tăng quyền lực cho chính quyền, thì họ phải có thêm được quyền lực chính trị tương ứng hoặc/và quyền lợi kinh tế tương xứng. Quyền lực của chính quyền thường được gia tăng theo mỗi điều khoản mới trong hệ thống pháp luật. Bởi vậy, luật pháp phải phục vụ quyền lợi “của dân”; được tu chính hay bị bãi bỏ với thời gian là “do dân”; luôn bị dân giám sát và kiểm tra để bảo đảm mục đích tối hậu là “vì dân”.iii
Chính quyền phải có đủ quyền lực mới áp dụng được thành công những nguyên tắc trên vào thực tế xã hội. Hễ có quyền lực là sẽ nẩy sinh nạn lạm dụng và tiếm đoạt, nên guồng máy chính quyền phải có mọi biện pháp chế tài hiệu quả, sao cho phù hợp với bản chất thực của những người điều hành và thừa hành. Quan hệ đạo đức với mẫu người “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư” sẽ khó thể hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc trên qua khỏi một thế hệ lãnh đạo. Đối với một đảng cầm quyền, tất cả mọi người đang phấn đấu để gia nhập đảng ấy đều có cùng bản chất là tham vọng quyền lực hoặc/và ham muốn quyền lợi. Chính vì lẽ đó nên quyền lực chính trị của người dân phải có đủ sức mạnh và khả năng để thay thế đảng cầm quyền mà vẫn duy trì được tính ổn định và trật tự của cả chính quyền lẫn xã hội. Muốn vậy, guồng máy chính quyền phải được tổ chức sao cho:
-
Hiến pháp là văn bản tối cao, xác định rõ ràng mọi quyền tự do tuyệt đối cùng với các giá trị tuyệt đối đi kèm; cũng như đề ra nguyên tắc tổ chức và điều hành chính quyền. Bất kỳ mọi sự thay đổi nào trong Hiến pháp phải có sự đồng tình của đại đa số người dân trong xã hội. Chính quyền phải hoạt động và tuân thủ nghiêm ngặt theo mọi nguyên tắc trong Hiến pháp. Đây là điều kiện “cần” để minh định thành văn bản chính thức các nguyên tắc tự do chính trị.
-
Chính quyền phải có một nhánh độc lập với mục đích chính là bảo vệ mọi giá trị tuyệt đối của những quyền đã được đề ra trong Hiến pháp trước mọi áp lực thay đổi của thời đại, hay từ quyền lực của chính quyền. Nhánh đó chính là ngành Tư pháp. Vai trò của ngành Tư pháp là bảo vệ công lý và lẽ-phải, theo đúng như tinh thần cũng như tiêu chuẩn của các giá trị đã được nêu ra trong Hiến pháp và pháp luật. Đã thuộc về công lý và lẽ-phải, nên mọi phán quyết của Tòa Án Tối Cao đều mang tính tuyệt đối, có giá trị trong khoảng thời gian khá dài so với tuổi thọ đời người; đồng thời không thể bị áp lực của chính quyền hay dư luận của công chúng chi phối. Ngành Tư pháp phải được Hiến pháp trao cho đủ quyền lực để giữ vững vai trò độc lập trước mọi thế lực chính trị trong xã hội. Nguyên tắc hoạt động của ngành Tư pháp để bảo đảm vị trí trung lập chính trị sẽ được khảo sát kỹ trong phần “Định chế pháp lý” trong chương VI (“Định chế và hợp chế xã hội”) Đây là điều kiện “cần” để lập nên quyền lực phân lập và đủ mạnh trong guồng máy chính quyền, nhằm bảo toàn trọn vẹn danh nghĩa và chính nghĩa của các quyền tự do. Ngành Tư pháp với quyền lực phân lập sẽ bảo đảm tính chính danh của ba nguyên tắc tự do chính trị đầu tiên, đó là: “chính quyền phải bảo vệ quyền tự do cho mỗi người dân”, “quyền tự do tuyệt đối phải gắn liền với các giá trị tuyệt đối”, và “mỗi người dân đều có những quyền tự do tuyệt đối, không thể bị xâm phạm”.
-
Chính quyền phải có một nhánh độc lập, là định chế xã hội để người dân thể hiện và thực thi quyền lực chính trị của họ, qua đó gây được ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi quyết-định trong việc lựa chọn định-hướng cũng như xác định mục tiêu trong các chính-sách của chính-quyền. Nhánh đó chính là ngành Lập pháp, là nơi tổng hợp quyền lực chính trị của toàn dân. Nếu chỉ đơn thuần trong vai trò lập pháp, đề ra luật lệ vừa để giải quyết trong vòng trật tự mọi mâu thuẫn trong xã hội, vừa vẫn giữ trọn vẹn các giá trị tuyệt đối của quyền tự do, ngành Lập pháp còn chưa thể-hiện được đúng mức quyền lực chính trị của toàn dân. Bởi ngành Lập pháp nắm giữ quyền quyết-định hầu hết định-hướng và mục tiêu cho các chính-sách của chính-quyền, họ phải có quyền-lực độc-quyền cung cấp mọi phương tiện để thi hành và thực hiện những chính-sách ấy. Đó phải là các phương tiện thiết yếu cho mọi khả năng hoạt động của chính quyền như: tài chính, pháp lý, và chính danh. Đây là điều kiện “cần” và “đủ” để thực hiện nguyên tắc tự do chính trị cuối cùng, đó là: “người dân phải có thêm quyền lực chính trị tương ứng hoặc/và quyền lợi kinh tế tương xứng nếu phải bị hạn chế bất kỳ quyền tự do nào”.
-
Chính quyền phải có một nhánh độc lập với mục đích chính là: thi hành mọi phán quyết của ngành Tư pháp; đề xướng các chính-sách cần thiết cho ngành Lập pháp; thực hiện những điều khoản và bảo vệ mọi điều luật đã được ngành Lập pháp chấp thuận. Nhánh đó chính là ngành Hành pháp, là nơi thực thi quyền lực chính trị của toàn dân. Đó là tổ chức chính quyền tập trung nhiều quyền lực thật-sự nhất, khi so sánh với quyền lực danh nghĩa như ở ngành Tư pháp. Chính nhờ những quyền lực này mà ngành Hành pháp mới thi hành và thực hiện được mọi chính-sách của chính-quyền, mà vẫn duy trì được các giá trị tuyệt đối của quyền tự do. Mặt khác, khi có quá nhiều quyền lực tập trung như vậy sẽ luôn là mối đe dọa đến các giá trị tự do. Do đó, tổ chức Hành pháp cần phải phân tán quyền lực thêm hơn nữa, sao cho không có ban ngành nào có đủ quyền lực đến mức lộng quyền, coi thường luật pháp, hoặc đảo ngược dễ dàng các phán quyết của ngành Tư pháp. Hơn nữa, ngoài sự lệ thuộc vào phương tiện hoạt động từ ngành Lập pháp, Hành pháp còn phải bị quyền lực chính trị của toàn dân chi phối. Đó là những hoạt động chính trị điển hình, xuất phát từ những quyền tự do tuyệt đối của người dân như: dư luận báo chí, biểu tình chống đối, tư tưởng đối kháng, hoặc hoạt động đối lập. Đây là những điều kiện “đủ” để áp dụng thành công các nguyên tắc tự do chính trị nêu trên.
-
Ba nhánh của chính quyền phải chế tài được quyền lực lẫn nhau. Sau đây là những điểm giống nhau trong tổ chức chính quyền ở các nước có được quyền tự do chính trị. Mọi chức vụ quan trọng trong ngành Tư pháp đều do Hành pháp bổ nhiệm, và phải được Lập pháp chấp thuận. Tuy ngành Tư pháp không bị áp lực chính trị trực tiếp của công chúng, họ vẫn gián tiếp chịu sự chi phối của toàn dân, vì họ phải trung thành tuyệt đối với tinh thần của bản Hiến pháp. Ngành Tư pháp có quyền vô hiệu hóa mọi điều luật do ngành Lập pháp và Hành pháp ban hành, nếu có điều khoản vi phạm đến giá trị tuyệt đối của quyền tự do. Ngành Lập pháp kiểm soát mọi phương tiện hoạt động của ngành Hành pháp, cũng như có quyền bãi nhiệm các viên chức cao cấp của chính quyền, nếu quá trình bãi nhiệm được ngành Tư pháp chấp thuận là hợp lệ. Bù lại, ngành Hành pháp có quyền phủ quyết các điều luật do Lập pháp ban hành khi tỉ lệ phiếu thuận của ngành Lập pháp dưới mức đại đa số qui định trong Hiến pháp. Ngoài ra, ngành Hành pháp có quyền khởi tố mọi viên chức trong ngành Tư pháp và Lập pháp nếu có bằng chứng buộc tội vi phạm Hiến pháp hoặc luật pháp. Nguyên tắc hoạt động của ngành Lập pháp và Hành pháp sẽ được khảo sát kỹ trong chương V (“Dân chủ và các nguyên tắc dân chủ”).
Tổ chức chính quyền với ba ngành quyền-hành phân lập và đủ sức mạnh quyền lực để chế tài lẫn nhau, đã được lịch sử cận đại chứng minh là mô hình hiệu quả nhất để duy trì được lâu dài quyền tự do chính trị. Thêm vào đó, chính quyền ấy phải có bản Hiến pháp khẳng định rõ ràng mọi quyền tự do tuyệt đối cho mỗi người dân, đó là: quyền tự do chính trị, tự do tư tưởng, tự do cá nhân, và tự do kinh tế, thì mới hội đủ mọi điều kiện để thiết lập một xã hội với quyền tự do thực thụ.
Dưới đây là những quyền tuyệt đối của quyền tự do chính trị.
-
Mọi công dân đều có quyền được tự do tham gia các hoạt động chính trị và trực tiếp tranh cử vào các cơ quan chính quyền, nếu hành động của họ không vi phạm đến quyền tự do tuyệt đối của người khác. Giá trị tuyệt đối của quyền này là: bất kỳ ai tham gia hoạt động chính trị đều không thể bị trừng trị bằng trọng tội quốc sự; nếu đã vi phạm đến quyền tự do tuyệt đối của người khác, đó là tội hình sự. Quá trình xét xử người hoạt động chính trị phải luôn bảo đảm quyền tự do tư tưởng và tự do cá nhân của người đó.
-
Mọi công dân đều có quyền được tham gia bầu cử để lựa chọn thành phần lãnh đạo trong các cơ cấu tổ chức quyền lực chính trị trong xã hội. Giá trị tuyệt đối của quyền này là: mỗi người một phiếu đều bình đẳng như nhau bất kể giàu nghèo, thân thế xã hội. Không ai bị trừng phạt vì sự lựa chọn của mình trong cuộc bầu cử.
Hệ quả của quyền tự do chính trị là những quyền tiêu biểu và cụ thể như sau:
-
Quyền được tự do tập hợp biểu tình, bày tỏ quan điểm chính trị.
-
Quyền được quyết định hoặc ảnh hưởng đến mọi qui định về luật pháp trong xã hội.
-
Quyền được quyết định hoặc ảnh hưởng đến sự bổ nhiệm lẫn bãi nhiệm thành phần lãnh đạo trong các cơ cấu tổ chức quyền lực chính trị trong xã hội.
Tự do chính trị là điều kiện tiên quyết để có được những quyền tự do liên đới khác. Chính quyền không phân quyền sẽ không thể nào mang lại quyền tự do chính trị đến cho mọi người dân, dù toàn thể lãnh đạo có tư cách đạo đức như thể thần thánh. Tự do chính trị là một trong những quyền tuyệt đối mà mọi người hoàn toàn có khả năng gần như được bình đẳng với nhau, bất kể thân thế hoặc nhân hệ. Trong tất cả các xã hội có được quyền tự do chính trị, mọi người đều gần như bình đẳng về quyền lực chính trị thông qua các hình thức cụ thể như: lá phiếu, tư tưởng, hành động, và tham gia hoạt động chính trị. Bằng lá phiếu, mỗi người một phiếu quyết định kết quả cuộc bầu cử, không phân biệt sang hèn, giới tính, hay địa vị xã hội. Dùng tư tưởng, mọi người đều hoàn toàn bình đẳng với nhau trong việc truyền bá quan điểm chính trị, dù có vừa đối kháng với quyền lực của chính quyền và vừa thu hút được sự đồng tình của nhiều người. Lúc hành động, ai cũng đều có quyền tham gia các hoạt động cụ thể, nhằm thể hiện sức mạnh từ quyền lực chính trị của nhiều người, dẫu có đối lập với quyền lực của chính quyền. Với con đường chấp chính, nếu có người tạo dựng được uy tín đối với công chúng, họ gần như có cùng cơ hội khi ra tranh chấp quyền hành với các thế lực đương nhiệm. Ngoài ra, người dân còn có hình thức thể hiện quyền lực chính trị khác, tuy khó đạt được mức bình đẳng toàn diện, nhưng có sức ảnh hưởng rất sâu đậm, đó là bằng cách đóng góp tài chính. Quyền tự do chính trị buộc các đảng phái chính trị phải tự túc về tài chính mới có phương tiện tham gia tranh cử. Nếu họ không đáp ứng được nguyện vọng của người dân, họ sẽ thiếu sự ủng hộ từ túi tiền của người dân, trước khi bị mất phiếu trong cuộc bầu cử. Đó là những hình thức tiêu biểu để người dân thể hiện quyền tự do chính trị của họ.
Người dân có nhiều hình thức khác nhau để thể hiện quyền tự do chính trị. Nếu kết quả và hậu quả không xâm phạm đến bất kỳ quyền tự do tuyệt đối nào đã ghi trong Hiến pháp, thì hành động đó không thể làm phương hại đến các giá trị tự do chung. Nếu có vi phạm luật pháp, thì luật lệ đó phải là luật dân sự với tội trạng dân sự. Người nào thực thi quyền tự do hợp Hiến, mà lại bị kết tội hình-sự hoặc quốc-sự thì chỉ có khả năng xảy ra trong xã hội tự do giả mạo. Bởi vậy, tổ chức chính-quyền phải có sự phân lập về quyền-hành, mỗi ngành một quyền hạn riêng biệt, độc lập. Trong vai trò bảo toàn quyền tự do của toàn dân, trách nhiệm của các ngành trong chính quyền là: Tư pháp phải bảo vệ danh nghĩa và chính nghĩa của mọi quyền tự do, cùng với các giá trị tuyệt đối đi kèm; Lập pháp đề ra giải-pháp để giải-quyết các mâu thuẫn trong xã hội sao cho phù hợp với mọi giá trị tuyệt đối của quyền tự do; Hành pháp thực thi quyền lực để bảo đảm tính thực thụ của các quyền tự do và làm thành thực tiễn các giá trị thực của quyền tự do. Đó là mô hình chính quyền sẽ mang lại quyền tự do thực thụ cho mọi người dân trong xã hội.
-
Quyền Tự Do Tư Tưởng
Đã làm người thì ai cũng có tư tưởng của riêng mình, thể hiện ra một phần qua quan niệm sống, tính cách cá nhân, cách thức cư xử, và lề lối sinh hoạt. Đối với những gì phải biểu hiện ra ngoài do tiếp xúc với mọi người xung quanh, tư tưởng con người luôn bị nhiều khuôn mẫu, phép tắc, lễ nghĩa, và luật lệ trong xã hội chi phối. Toàn bộ phần riêng tư còn lại của tư tưởng, xuất phát từ tâm tư, nguyện vọng, mong ước, hoặc ý tưởng thầm kín, đều là quyền tự do tuyệt đối của người đó, không hề bị thế lực nào trong xã hội hạn chế hoặc ngăn cấm. Đấy là tạo hóa đã ban cho con người quyền tự do tâm tưởng, một phần của quyền tự do tư tưởng, hoàn toàn bình đẳng như nhau và không thể bị xâm phạm trong phạm vi nội tâm. Như vậy, vấn đề nan giải của quyền tự do tư tưởng là xác định rõ ràng mọi giá trị tuyệt đối và tìm hiểu các nguyên tắc thiết thực sao cho, nếu có người muốn thể hiện hoặc truyền bá bất kỳ tư tưởng riêng nào ra ngoài, đều có quyền làm (thay vì - được quyền) mà vẫn không vi phạm nghiêm trọng đến những qui định và luật lệ trong xã hội.
Phần lớn mọi người trong xã hội đều bị nhiều nguồn tư tưởng khác nhau áp đặt, buộc phải tuân theo, dù rằng điều đó hoàn toàn trái ngược với tư tưởng của bản thân họ. Trong mối quan hệ giữa người với người, con cái phải vâng lời cha mẹ; nhân viên phải làm theo ý chủ mướn; cấp dưới phải thi hành mệnh lệnh cấp trên; kẻ mạnh bắt người yếu phải chấp nhận sự vô lý; kẻ lắm quyền thế ép buộc thường dân phải phục tùng tuyệt đối... Do đó, nếu có ai ham muốn áp đặt tư tưởng của mình lên người khác, thì đấy cũng là bản chất tự nhiên của con người. Ngoài khả năng ảnh hưởng, điều này còn xác định hoặc nâng cao cái “tôi” của bản thân người đó, cũng như khẳng định sự hiện diện của cá nhân “tôi” giữa muôn người xung quanh. Trong phạm vi xã hội cũng có sự áp đặt tương tự, mọi người luôn bị ràng buộc bằng tư tưởng của nhiều thế hệ trước để lại, thông qua các tiêu chuẩn về phép tắc và lễ nghĩa của nền văn hóa. Ngoài ra, họ còn phải chấp hành mọi luật lệ trong xã hội, vốn là sản phẩm tư tưởng của những người đang điều hành chính quyền. Tựu chung, đó là những tư tưởng được phổ biến trong xã hội, áp đặt lên toàn dân để duy trì truyền thống văn hóa và giềng mối kỷ cương của xã hội ấy. Con người từ lúc tấm bé đến khi trưởng thành, hầu hết đã quen dần với lề lối áp đặt tư tưởng trong gia đình. Khi ra ngoài xã hội, họ phải chịu phục tùng cấp trên, chủ mướn lẫn những người có thế lực vì nhu cầu làm ăn sinh sống. Bởi vậy, nếu không có quyền tự do tư tưởng, họ sẽ không thể giải quyết tận gốc mọi bế tắc trong hệ tư tưởng chính thống, hoặc tìm ra giải pháp thỏa đáng cho bao điều vô lý, bất công trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tự do tư tưởng là quyền được hoàn toàn tự do từ chối bất kỳ tư tưởng nào do người khác hoặc xã hội áp đặt lên người đó. Mỗi người sinh sống trong cộng đồng cần phải tôn trọng phép tắc giao tiếp, ý thức được bổn phận công dân, cũng như tuyệt đối chấp hành mọi luật lệ xã hội dù rằng họ có đồng ý hay không.
Tư tưởng quyết định nhân cách con người, giải phóng họ để thành người được thực sự tự do; hoặc trói buộc họ, hầu biến người có tư duy thành cỗ máy sinh học biết vâng lời, hay tự giác làm nô lệ. Nếu có chính quyền dùng sức mạnh bạo lực cai trị dân, thời gian tồn tại của thể chế đó khó kéo dài quá khỏi một thế hệ lãnh đạo, bởi lẽ điều kiển bạo lực phải cần đến thứ bạo lực khác mạnh mẽ hơn. Mặt khác, nếu chính quyền giam cầm được khả năng tư duy của họ và tìm kiếm được hệ tư tưởng nhằm thuyết phục người dân chấp thuận sự áp bức và cam chịu kiếp nô lệ, thời gian tồn tại của thể chế ấy sẽ kéo dài theo sức sống của hệ tư tưởng đó. Lịch sử đã cho thấy rằng, tư tưởng được nhiều người chấp nhận thường là tư tưởng áp đặt, sẽ được các thế hệ trước áp đặt lên thế hệ sau. Sức sống của nó vượt trội cả không gian lẫn thời gian, có thể sẽ tồn tại mãi mãi nếu không có gì thay đổi trong môi trường sống của xã hội đó. Trên thế giới chỉ có số lượng rất ít hệ tư tưởng như vậy; trong số đó, ảnh hưởng sâu đậm nhất là hệ tư tưởng Khổng Mạnh, vốn đã thống trị hầu hết vùng châu Á từ thời trước công nguyên cho đến tận ràyiv. Tư tưởng Khổng Mạnh được chấp nhận và truyền bá rộng rãi vì đã mang lại sự ổn định và trật tự cho xã hội. Sự thành công này một phần là nhờ ở cách thức phân chia quyền tự do. Một người dù không có quyền hành gì bên ngoài xã hội, với thời gian sẽ có cơ hội được toàn quyền tự do trong gia đình của riêng họ, bất kể giới tính hoặc giàu nghèo. Hình thức chính quyền ở những nước châu Á chịu ảnh hưởng tuy có thay đổi với thời gian, nhưng thể chế chính trị vẫn giữ nguyên bản chất của tư tưởng Khổng Mạnh. Đối với quyền tự do, quyền lực chính trị bắt buộc người dân chấp thuận sự áp bức và cam chịu phận làm dân; thực chất là kiếp đời nô lệ tự giác. Song song với điều đó, tư tưởng Khổng Mạnh còn hạn chế đến mức tối đa quyền tự do tư tưởng, vì sợ người dân bị tiêm nhiễm các giá trị “độc-hại”, làm phá vỡ trật tự của xã hội. Đúng ra, nếu không có các giá trị tuyệt đối rõ ràng, quyền tự do tư tưởng là quyền khó phân biệt rành mạch đâu là những giá trị xác đáng, đâu thuộc loại giá trị gây thiệt hại thực sự. Đồng thời, nếu không có những nguyên tắc thiết thực, phù hợp với nền văn hiến của xã hội, quyền tự do tư tưởng là quyền dễ bị xâm lấn vì khó tách biệt hoàn toàn phạm trù của quyền tự do riêng ra khỏi các giá trị chung.
Như vậy, đâu là những giá trị tuyệt đối của quyền tự do tư tưởng?
-
Tư tưởng của mỗi người đều có giá trị tuyệt đối. Cụ thể hơn, tư tưởng thường là đức tin hoặc niềm tin riêng của mỗi người. Đây là quyền tự do tâm tưởng đã được tạo hóa ban cho, quyền lực của con người không thể bắt buộc người ta phải công khai phủ nhận hoặc từ bỏ tư tưởng của bản thân họ.
-
Mọi người đều có quyền truyền bá tư tưởng của chính mình và không bị trừng trị vì nội dung tư tưởng, đó là giá trị tuyệt đối nếu phương tiện dùng để truyền bá không vi phạm đến quyền tự do cá nhân của những người tiếp thu tư tưởng. Đây là giá trị tuyệt đối nhằm bảo vệ quyền làm người của mỗi người bị bắt buộc phải tiếp nhận tư tưởng; đồng thời khẳng định rõ rằng quyền tự do tư tưởng không là quyền “xin-cho”, mà là quyền đặc nhiên. Trong thực tế, người truyền bá tư tưởng thường là người có thế lực chính trị hoặc kinh tế, dùng quyền hành của họ để áp đặt tư tưởng lên nhiều người khác. Vì yêu cầu chính trị hoặc để bảo vệ quyền lợi kinh tế của người muốn áp đặt tư tưởng, những người bị tiếp nhận tư tưởng chỉ được bảo vệ quyền tự do cá nhân mà thôi. Quân đội phải chịu thiệt khá nhiều quyền tự do chính trị khi thi hành nhiệm vụ, giống như nhân viên sẽ bị xâm phạm quyền tự do kinh tế nếu họ không làm theo ý chủ mướn.
-
Mọi người đều có quyền tìm kiếm tư tưởng để học hỏi, tiếp thu và truyền bá; đó là giá trị tuyệt đối. Con người tuy bị áp đặt tư tưởng bất kể lòng đồng tình, nhưng họ đều phải có quyền tự do tìm kiếm tư tưởng thích hợp với quan điểm của họ. Quyền được truyền bá tư tưởng mà họ tâm đắc phụ thuộc vào quyền tác giả của tư tưởng. Đây là giá trị tuyệt đối dù rằng nội dung của tư tưởng đó có đi ngược lại với quan niệm sống trong xã hội hoặc bị đa số người đánh giá là loại “độc-hại”.
Tư tưởng có sức mạnh tạo ảnh hưởng và khả năng gây thiệt hại đến nhiều người trong xã hội. Dù rằng quyền truyền bá tư tưởng của mỗi người là quyền tuyệt đối, nhưng chính quyền vẫn có cách ngăn cản người dân thực thi quyền tự do ấy bằng hình thức vay mượn hoặc núp bóng dưới lợi ích chung của tập thể. Bởi vậy, quyền tự do tư tưởng phải cần có thêm những giá trị tuyệt đối sau đây nhằm bảo vệ trách nhiệm của những người dám nêu lên tư tưởng dị biệt:
-
Những gì thuộc về lẽ-phải của công lý đều có giá trị tuyệt đối. Bất kỳ điều gì vi phạm lẽ-phải của công lý đều đã xâm phạm đến quyền tự do của ít nhất một người. Lẽ-phải có giá trị tuyệt đối để bảo vệ người đã mang sự thật công lý ra ngoài ánh sáng công luận khỏi bị trách nhiệm về mức độ thiệt hại, bất kể qui mô lớn nhỏ hoặc có xâm phạm đến quyền tự do của nhiều người khác. Bảo vệ quyền tự do của từng con người là trọng tâm của nền tảng công lý; chấp nhận hy sinh quyền tự do của thiểu số người vì lợi ích của đa số là cứu cánh của chế độ vô nhân nghĩa. Một khi ngành Tư pháp đã chính thức công nhận lẽ-phải của sự thật, thì ngành Hành pháp phải dùng trọn quyền lực để trả lại công lý cho sự thật ấy.
-
Những gì thuộc về giả-tưởng trong tư tưởng đều có giá trị tuyệt đối nếu lý thuyết trong giả tưởng không đòi hỏi hành động vi phạm đến quyền tự do chính trị và cá nhân của người khác. Phần lớn những tiến bộ trong tư tưởng đều bắt đầu bằng các giả-tưởng, làm nền tảng lý luận cho sự tiến triển. Tiến bộ trong tư tưởng không những nâng cao tầm nhận thức cho con người, mà còn hay phá vỡ trật tự cũ của xã hội hoặc đánh đổ những gì đã được tôn thành chân lý. Chính vì lẽ đó nên những tư tưởng như vậy dễ bị đánh giá là “độc-hại” với hình phạt khắc khe nếu mang ra truyền bá. Những điều giả-tưởng nếu có giá trị thực tiễn và được nhiều người chấp nhận, sẽ có khả năng trở thành sự thật hoặc chân lý trong tương lai – đó là điều “độc-hại” đối với một số người; bằng không nếu có gây thiệt hại về kinh tế hoặc địa vị xã hội của những người khác, thì người đưa ra tư tưởng không thể bị bắt cùng chia xẻ trách nhiệm với người đã áp dụng vào hành động cụ thể.
-
Những gì thuộc về chủ kiến hoặc sự thật trong tư tưởng đều có giá trị tuyệt đối khi người đưa ra hoàn toàn chịu trách nhiệm về hậu quả thiệt hại. Chủ kiến thường gây tác động lên dư luận xã hội bằng quan điểm riêng, gián tiếp làm tổn hại đến những người có liên quan. Sự thật thường phơi bày mặt trái vấn đề hoặc tiết lộ thông tin bí mật, trực tiếp gây thiệt hại đến mọi người bị liên can. Một khi người đưa ra chủ kiến hoặc sự thật chấp nhận trách nhiệm về mọi hậu quả do họ gây nên, đặt trọn niềm tin cá nhân họ vào quan điểm hoặc thông tin ấy, thì điều đó phải được tôn trọng tuyệt đối. Giá trị tuyệt đối ở đây có nghĩa là luật pháp không được đề ra hình phạt nặng hơn mức độ thiệt hại thật sự. Đây là điều kiện cần thiết để bảo đảm quyền tự do thực thụ về ngôn luận và báo chí.
Tư tưởng phải gây ảnh hưởng thế nào để trở thành tư tưởng độc-hại? Tư tưởng thực sự độc-hại là tư tưởng đòi hỏi hành động của cá nhân hoặc chính sách xã hội vi phạm đến quyền tự do tuyệt đối của người khác, đó là các quyền tự do chính trị, tự do tư tưởng, và tự do cá nhân. Xã hội nào đã xây dựng được nền tảng vững chắc cho quyền tự do thì không cần phải cấm đoán tư tưởng bị đánh giá là độc-hại; ngược lại, nơi nào mà nền tảng của quyền tự do đang hãy còn non trẻ, nơi đó có nhiều lý do chính đáng để kiểm duyệt mọi tư tưởng mang giá trị độc-hại.
Tất cả mọi giá trị tuyệt đối nêu trên vừa khẳng định quyền tự do tư tưởng của mỗi người, vừa bảo vệ quyền này khỏi bị quyền lực của chính quyền xâm phạm bằng các biện pháp trừng trị của trọng tội quốc sự. Mỗi người có quyền truyền bá tư tưởng, nhưng họ cũng đều có quyền từ chối tiếp nhận tư tưởng từ những người khác. Quyền từ chối sẽ dẫn đến quyền cấm đoán nếu họ có khả năng. Khi nhân rộng ra phạm vi cộng đồng, đa số người có dư thừa quyền lực chính trị để cấm cản thiểu số truyền bá tư tưởng mà họ không thích. Bởi vậy, một cộng đồng nhỏ hoặc toàn xã hội vẫn có thể hạn chế quyền tự do tư tưởng của thiểu số người bằng những biện pháp ngăn cấm của tội phạm dân sự. Đây là ranh giới khó phân biệt giữa phạm trù của quyền tự do riêng với các giá trị chung. Thiểu số người muốn truyền bá tư tưởng khác biệt với quan niệm chung thường vấp phải sự chống đối từ cộng đồng hoặc xã hội. Đó là phản ứng tự nhiên của con người khi chọn lọc tư tưởng, nhằm bảo đảm chiều hướng tịnh tiến trong quá trình phát triển và tiến hóa của xã hội. Tư tưởng có giá trị lâu dài sẽ dần thuyết phục được nhiều người nghe theo; tư tưởng dao động nhất thời, luôn bị dòng thời gian đào thải. Xã hội tôn trọng quyền tự do tư tưởng của thiểu số là xã hội không trù dập những người dám nêu tư tưởng dị biệt bằng những tội phạm dân sự bất hợp lý, hoặc làm ngơ trước các hành động tẩy chay bất hợp pháp. Đây luôn là một vấn đề khó, bởi vậy đâu là sẽ những nguyên tắc thiết thực phù hợp với nền văn hiến của xã hội ta hầu đạt được tới mục tiêu đó? Dưới đây là mười hai nguyên tắc tổng hợp từ kinh nghiệm của các nước tiên tiến có thể áp dụng vào xã hội nước ta.
-
Tư tưởng phục vụ nhân-sinh chứ không thể bắt dân-sinh tôn thờ tư tưỏng.
-
Tự do truyền bá tư tưởng nhưng không thể tự quyền áp đặt
-
Tư tưởng phải được tự do cạnh tranh thay vì bị quản lý chặt chẽ.
-
Công hữu hóa tư tưởng và tư nhân hóa phương tiện truyền thông, truyền tải.
-
Tự do tư tưởng đi đôi với trách nhiệm, trừ khi thuộc về các giá trị tuyệt đối.
-
Hệ thống giáo dục phải được độc lập và tự chủ về tư tưởng.
-
Giáo dục người dân phân biệt được sự thật với chủ kiến.
-
Ngành Tư pháp tách biệt được rõ ràng sự thật ra khỏi chủ kiến.
-
Ngành Lập pháp phải lệ thuộc vào tư tưởng của người dân trong xã hội.
-
Ngành Hành pháp được độc lập về tư tưởng chính trị với đảng cầm quyền.
-
Cơ chế chính trị, nhân văn buộc con người phải độc lập về tư tưởng.
-
Cơ chế kinh tế, xã hội buộc con người phải cần đến những tư tưởng mới.
-
Tư tưởng phục vụ nhân-sinh chứ không thể bắt dân-sinh tôn thờ tư tưỏng:
Đây là nguyên tắc tổng quát cho mọi vấn đề liên quan đến tư tưởng. Con người khám phá hoặc tìm đến tư tưởng là để phục vụ đời sống của họ và nâng cao kiến thức cho các thế hệ sau. Tư tưởng phải thay đổi theo chiều hướng cấp tiến thì con người mới thoát được khỏi sự lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên của môi trường sống và làm chủ được vận mệnh của mình. Tư tưởng cấp tiến là tư tưởng vừa đáp ứng được nhu cầu về kiến thức và tri thức cho xã hội, vừa thực dụng để giải quyết được bế tắc trong cuộc sống của nhiều người. Nếu mọi người được tự do trao đổi tư tưởng, với thời gian những gì đã từng được coi là chân lý có thể sẽ không còn giữ giá trị tuyệt đối, mà chỉ đúng dưới một góc độ nào đó. Một trong những may mắn của nhân loại là việc trao đổi tư tưởng khoa học thường ít bị cấm cản. Bởi vậy, mọi điều chân lý trong khoa học rày phải mang giá trị tương đối, dù rằng quy luật của tự nhiên dường như không hề thay đổi. Trong khi đó, có bao điều chân lý trong nhân văn vẫn bị coi là tuyệt đối, bất biến, dù rằng tâm lý con người và nhu cầu cuộc sống luôn thay đổi với thời gian? Người ta phải liên tục bổ sung cho chân lý cũ để phù hợp với kiến thức mới, nhằm tìm đến sự hoàn thiện và hoàn hảo trong tầm hiểu biết của tri thức. Tinh thần đó sẽ biến con người trở thành người chủ tư tưởng, dùng tư tưởng để thành “nhân”, tiến lên cuộc sống “nhân-sinh”. Con người sẽ sẵng lòng tôn thờ chân lý trong tư tưởng nếu đây là cứu cánh cho quyền lợi hoặc quyền lực của cá nhân họ. Dùng quyền lực để bắt buộc mọi người phải tôn thờ chân lý ấy đến mức tuyệt đối, là trói buộc người ta vào vòng nô lệ suốt đời cho tư tưởng trong kiếp sống “dân-sinh”.
-
Tự do truyền bá tư tưởng nhưng không thể tự quyền áp đặt:
Tự do phát triển tâm tưởng trong lòng là quyền bình đẳng tuyệt đối, ai cũng như ai. Quyền tự do truyền bá tư tưởng ấy ra ngoài để được nhiều người biết đến, lại là một quyền hoàn toàn bất bình đẳng, không thể đạt được tính công bằng tuyệt đối. Tiến bộ khoa học kỹ thuật vẫn sẽ không sao san bằng nổi khoảng cách-biệt bất công trong phạm trù phương tiện truyền tải, đặc biệt khi xét đến yếu tố uy tín cá nhân hoặc giá trị tư tưởng. Phân hóa về giàu nghèo và quyền lực trong xã hội sẽ ban cho thành phần vượt trội đặc quyền áp đặt tư tưởng của mình lên những người khác, bắt buộc người ta phải tuân theo dù có trái ngược với ý muốn; đồng thời cấm đoán người khác không được truyền bá tư tưởng bất lợi cho mình. Vì nhu cầu cuộc sống, nhiều người phải chịu chấp nhận bị người có thế lực hoặc những ai đang nắm giữ phương tiện sinh sống của họ áp đặt và cấm đoán tư tưởng. Cùng chung bản chất vấn đề, một người sống trong cộng đồng nhỏ thường bị tư tưởng của số đông áp đặt. Nếu có tư tưởng khác biệt với quan niệm của đa số, người đó sẽ dễ bị cấm không cho diễn đạt hoặc truyền bá tư tưởng. Như vậy làm sao để bảo đảm quyền tự do tư tưởng của mỗi người mà vẫn không vi phạm đến các giá trị tự do chung? Một trong những giá trị chung ở đây là mỗi cá nhân có quyền hạn gì khi bị người khác hoặc cộng đồng áp đặt hoặc ngăn cấm tư tưởng? Đối với trường hợp áp đặt, quyền tiếp nhận tư tưởng của ngưòi đó tùy thuộc vào mức độ lệ thuộc của họ vào người áp đặt hoặc cả cộng đồng. Đối với việc ngăn cấm, điều này chỉ hợp pháp nếu tư tưởng không mang các giá trị tuyệt đối. Chủ mướn cần kiểm soát tư tưởng nhân viên vì đó là quyền lợi kinh tế chính đáng của họ. Nếu nhân viên muốn truyền bá tư tưởng bất lợi cho người chủ, ngoại trừ những gì thuộc về lẽ-phải của công lý, họ phải có trách nhiệm trước mọi thiệt hại do điều đó gây nên. Vấn đề trong cộng đồng người cũng vậy, khi đa số người không cần lệ thuộc vào người đưa ra tư tưởng, họ đều có quyền từ chối và ngăn cấm tư tưởng mà họ không thích, nhưng không thể cấm ngặt những gì thuộc về lẽ-phải của công lý, lý thuyết của giả tưởng, và sự thật hoặc chủ kiến có trách nhiệm bảo đảm. Tương tự, ai muốn diễn đạt hoặc truyền bá tư tưởng cần phải biết tôn trọng và không được vi phạm đến quyền chọn lựa tư tưởng tiếp thu của những người khác. Mỗi người đều được tự do tìm phương tiện thích hợp để truyền bá tư tưởng, nhưng họ không được phép tự quyền áp đặt tư tưởng đó lên đầu những người khác.
-
Tư tưởng phải được tự do cạnh tranh thay vì bị quản lý chặt chẽ:
Tư tưởng là sản phẩm từ trí tuệ con người nên có nhiều điểm tương đồng với hàng hóa, nhất là về phương diện quản lý tài nguyên và đáp ứng nhu cầu xã hội. Lịch sử đã cho thấy rằng, nền kinh tế do nhà nước quản lý tập trung theo mô hình xã hội chủ nghĩa không thể đáp ứng được nhu cầu vật chất của người dân. Theo lý thuyết, thị trường tự do có quá nhiều biến động hỗn loạn, nên cần phải có sự tập trung quản lý của nhà nước để vừa ổn định nền kinh tế, vừa mang lại công bằng xã hội. Trong thực tế, dùng quyền lực thay cho cạnh tranh trong việc quản lý kinh tế luôn dẫn đến hậu quả tồi tệ, phung phí tài nguyên, phá hoại môi trường, và bần cùng hóa người dân. Chế độ tập trung quản lý tư tưởng cũng xuất phát từ lý do ổn định xã hội và dẫn đến thực tế tương tự: nỗ lực ngăn ngừa mọi tư tưởng “độc-hại” luôn làm lãng phí tài năng, kiệt quệ tính sáng tạo, và cướp mất đi tri thức của xã hội. Đó là kết quả khi giữ gìn giá trị chung là ngăn ngừa tư tưởng đồi trụy bằng cách quản lý chặt chẽ tư tưởng con người. Tư tưởng là một trong những nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người. Nếu có quyền chọn lựa, người ta sẽ tích cực bài trừ các giá trị cực đoan hoặc mang tính độc hại không chỉ cho lợi ích cá nhân, mà còn vì tương lai của con em họ nữa. Tri thức con người là mênh mông không bờ bến, bởi vậy nên tư tưởng phải cần tất cả mọi người trong xã hội mới gạn lọc được mọi điều hay dở, chứ không thể bị một nhóm người nào đó quản lý, chi phối. Khi bị quản lý, quyền lực và sự thăng tiến của những người quản lý luôn lệ thuộc vào việc bình chọn tư tưởng phù hợp với hệ tư tưởng chính thống, cũng như trừng phạt những gì đi ngược lại quyền lợi của giai cấp họ. Thêm vào đó, họ rất dễ dàng loại bỏ tư tưởng mà họ không hiểu nổi giá trị với lý do “độc-hại”. Tư tưởng có được tự do cạnh tranh thì người ta mới phân tích đầy đủ mức độ tích cực và tiêu cực trong quá trình tiếp thu. Điều này có thể gây nên tính hỗn loạn trong khi tranh luận, bài bác, phản biện... nhưng đó là cái giá nhỏ phải trả cho lợi ích lớn lao của quyền tự do tư tưởng. Sự lợi hại trong nền kinh tế cũng giống như vậy, biến động trong thị trường tự do là điều cần thiết để loại bỏ doanh nghiệp yếu kém và sử dụng tài nguyên thêm hiệu quả, với mục đích là đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của người tiêu dùng.
-
Công hữu hóa tư tưởng và tư nhân hóa phương tiện truyền thông, truyền tải:
Xã hội nước ta chịu ảnh hưởng nặng từ tư tưởng Khổng Mạnh, chuyên đề cao tư tưởng chính thống và bác bỏ những phần còn lại. Văn học dân gian truyền miệng là hình thức phản kháng của người dân ta trước sự chèn ép về tư tưởng đó. Câu ca dao “trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, đã chỉ rõ tính nhất thời của tư tưởng chính thống. Ngày nay, đảng Cộng Sản cũng đi sâu vào lối mòn của sự phân biệt giữa tư tưởng chính thống và phản động. Tư tưởng trong xã hội bị tư hữu hóa thành tài sản của đảng Cộng Sản; được chấp nhận hoặc loại bỏ không còn là quyền của người dân, mà thuộc độc quyền của đảng Cộng Sản. Trong khi đó, phương tiện truyền thông, truyền tải lại bị quốc hữu hóa, tư nhân không được phép làm chủ. Khi công hữu hóa tư tưởng, mọi người đều có quyền chọn lựa tư tưởng để tiếp thu như họ đã làm trong nền văn học dân gian truyền miệng xưa nay. Mọi tư tưởng được phát triển trong lòng xã hội đều là món ăn tinh thần cho đủ mọi tầng lớp người trong xã hội, thuộc tài sản chung của xã hội ấy, thay vì bị bắt làm công cụ cho giai cấp cầm quyền. Công hữu hóa tư tưởng là bước đầu để có được sự cạnh tranh trong tư tưởng và bãi bỏ hệ thống quản lý giáo điều; tương tự như khi tự do hóa nền kinh tế ra khỏi sự quản lý tập trung theo kiểu xã hội chủ nghĩa. Vấn đề tư nhân hóa phương tiện truyền thông, truyền tải lúc nào cũng có ý kiến lo ngại là khi quyền lực ấy vào tay tư nhân thì sẽ bị thao túng và lũng đoạn. Điều này phần lớn xuất phát từ lòng muốn bảo vệ các giá trị của tư tưởng chính thống, hoặc lo sợ tư nhân chỉ biết chú trọng đến lợi nhuận tư trước mắt, làm thiệt đến lợi ích chung sau này. Thực ra, quyền lực đó do nhà nước kiểm soát còn mang lại kết quả tệ hại hơn nhiều so với tư nhân. Nhà nước thực chất là do thiểu số người điều hành, chủ yếu là phục vụ quyền lợi cho đảng cầm quyền; chăm lo đến lợi ích chung chỉ là điều thứ yếu. Tổ chức tư nhân còn phải có trách nhiệm pháp lý và tự lực gánh nặng tài chính. Để khỏi bị phá sản, họ phải truyền tải tư tưởng được công chúng chấp nhận hoặc mong đợi. Tự do cạnh tranh giữa các tổ chức tư nhân sẽ truyền tải được tư tưởng phù hợp với mọi người đến với nhiều người nhất; đồng thời cũng tạo điều kiện để giới thiệu tư tưởng mới, dù có lập dị, cực đoan, hoặc cực tiến đến với những ai đang muốn tìm hiểu. Người dân ta đã dùng phương tiện do tạo hóa ban cho để tự truyền miệng những gì họ muốn tiếp thu không chỉ ở một thế hệ, mà còn chọn lọc phần tinh túy rồi truyền lại cho các thế hệ sau nữa. Có thể phỏng đoán rằng, kho tàng văn học dân gian nước ta còn đồ sộ và phong phú hơn nhiều so với di sản văn hóa của các triều đại để lại. Thực hiện nguyên tắc này sẽ giải phóng sức mạnh về tư tưởng trong lòng dân và phát huy tối đa lợi thế này của dân tộc ta.
-
Tự do tư tưởng đi đôi với trách nhiệm, trừ khi thuộc về các giá trị tuyệt đối:
Đây là nguyên tắc cần thiết để tách biệt phạm trù của quyền tự do riêng ra khỏi các giá trị tự do chung. Quan điểm chính thức của đảng Cộng Sản về tự do tư tưởng, nhất là tự do báo chí, là nhà nước phải kiểm soát thông tin để bảo vệ tính trung thực và lập trường của thông tin. Lý do đưa ra là nếu không có sự kiểm soát của nhà nước, báo chí sẽ lạm dụng quyền lực, bóp méo tin tức nhằm làm lợi cho thiểu số nào đó trong xã hội. Một người truyền bá tư tưởng tuy không trực tiếp hành động gây phương hại đến các giá trị tự do chung, nhưng có thể vô tình hay cố ý thúc đẩy nhiều người khác làm những hành động vi phạm như vậy. Bởi vậy, vai trò chính đáng của nhà nước là làm luật để buộc người truyền bá tư tưởng phải hiểu rõ và chịu trách nhiệm cụ thể về những điều do họ đưa ra, thay cho chế độ kiểm duyệt độc đoán. Vấn đề thứ nhất, tư tưởng chỉ gây thiệt hại trực tiếp khi dẫn đến hành động phạm pháp. Do đó, luật pháp cần phải bảo đảm quyền tự do của người truyền bá tư tưởng, vừa đề ra qui định để phân biệt rõ ràng trường hợp cần truy tố hoặc bảo vệ người ấy về trách nhiệm do hậu quả gây nên; mặc dù người đó chỉ đưa ra tư tưởng mà không tham gia hành động. Tự do tư tưởng bao gồm quyền tự do ngôn luận, nhưng điều đó không đồng nghĩa với quyền tự do truyền tin thất thiệt, như hô “cháy” giữa một đám đông ngưòi mà khỏi bị trách nhiệm về sự thiệt hại. Ngược lại, người nói lên sự thật của công lý không thể bị qui cứ trách nhiệm pháp lý, bất kể mức độ thiệt hại hoặc số lượng người bị thiệt thòi; dù rằng điều đó có xâm phạm đến quyền tự do của nhiều người khác. Vấn đề thứ hai, tư tưởng vẫn có thể gây thiệt hại gián tiếp nếu đưa ra thông tin sai lạc hoặc đặt điều xuyên tạc. Đây là vấn đề thường xuyên gặp phải trong quyền tự do báo chí và là nguyên cớ để chính quyền can thiệp vào quyền tự do tư tưởng. Nếu cần kiểm chứng tính trung thực của thông tin, cơ quan kiểm duyệt của nhà nước không thể bì được với dư luận xã hội về vai trò trung lập, kiến thức vấn đề, thái độ phản ứng, cũng như với biện pháp trừng phạt. Nếu có đặt điều xuyên tạc, ai sẽ là người tích cực xác minh sự việc ra với công luận, nhà nước hay người bị tổn hại uy tín? Do đó, vai trò đúng đắn của nhà nước là thụ động trong việc truy tố trách nhiệm, chỉ phân xử khi xảy ra thiệt hại thật sự, hoặc khi có người bị xúc phạm đòi hỏi xác minh lại sự thật và lẽ phải. Thêm vào đó, luật pháp bị bắt buộc phải công bằng trong vấn đề bồi thường; không thể đưa ra hình phạt thật nặng với lý do ngăn ngừa thông tin sai lạc, mà thực chất là cưỡng chế thông tin như luật báo chí của chính quyền nước ta hiện nay. Báo chí phải lường trước chính xác mức độ của hình phạt và khoảng bồi thường, thì mới hoàn toàn được tự do phanh phui tận gốc những điều tiêu cực, cũng như dám thách đố trước mọi thế lực trong xã hội.
-
Hệ thống giáo dục phải được độc lập và tự chủ về tư tưởng:
Nếu như tư tưởng được ví như hàng hóa, thì nơi mà phát sinh phần lớn luồng tư tưởng mới và trao đổi dòng tư tưởng cũ chính là hệ thống giáo dục. Đây không chỉ là nơi trang bị tư tưởng cần thiết trong đường đời cho những thế hệ sau, mà còn là môi trường trao đổi, thảo luận nhằm đánh giá và chọn lọc tư tưởng bổ ích cho xã hội, tìm cách giải quyết các vấn nạn hiện tại, tìm hiểu những vấn đề sẽ gặp phải trong tương lai, cũng như tìm kiếm mọi giải pháp tối ưu cho các vấn đề ấy. Ngạn ngữ phương Tây có câu: “kiến thức mang chia xẻ là kiến thức được nhân đôi”, khẳng định tầm quan trọng của nhu cầu cần phải chia xẻ kiến thức giữa mọi người với nhau. Một quốc gia nghèo nàn lạc hậu như nước ta nếu muốn theo kịp các nước trong khu vực, không thể chỉ đơn thuần áp dụng những kinh-nghiệm-hay là sẽ thành công; mà cần phải vận dụng sức mạnh tư tưởng của toàn dân để đề ra chính sách công vừa tránh khỏi những lỗi lầm đã mắc phải và vừa tận dụng được ưu thế riêng của nước mình. Một trong những điều kiện cần phải có để đạt được mục tiêu ấy là hệ thống giáo dục được hoàn toàn độc lập và tự chủ về tư tưởng. Hệ thống giáo dục có độc lập về tư tưởng, mới đào tạo được con người biết cách tự lập trong tư tưởng, không bị ảnh hưởng bởi các giá trị nhất thời từ bên ngoài. Hệ thống giáo dục có tự chủ được tư tưởng, mới đào tạo được con người giữ vững được chủ quyền của đất nước, khỏi bị lệ thuộc vào chính sách của các cường quốc lớn. Tuy lợi ích như vậy, nhưng mối quan ngại thường nẩy sinh là ngành giáo dục công lập nếu được độc lập và tự chủ trong tư tưởng, sẽ dùng phương tiện công để truyền bá tư tưởng riêng. Điều này không phải là lý do chính đáng để chính quyền trói buộc ngành giáo dục vào hệ tư tưởng mang nặng tính giáo điều, không đúng với thực tế xã hội và vô dụng trong thực tiễn đời sống như ở nước ta hiện nay. Các bậc cha mẹ hoặc bản thân sinh viên không cần đến sự hướng dẫn tư tưởng từ nhà nước, mà vẫn chọn lọc được giá trị tư tưởng bổ ích để con em hoặc bản thân họ tiếp thu. Hệ thống giáo dục có thể nói là thị trường để tư tưởng cạnh tranh và hợp tác lẫn nhau. Tự do hóa ngành giáo dục sẽ mang lại sự đa dạng và phong phú về tư tưởng; tương tự như thành quả về thịnh vượng kinh tế khi xóa bỏ chế độ quản lý tập trung kiểu xã hội chủ nghĩa. Những người được độc lập và tự chủ về tư tưởng thường là người tôn trọng tư tưởng xung khắc và biết hóa giải mối dị biệt để đạt đến thỏa hiệp khi cần thiết. Xã hội có được nhiều người như vậy là xã hội biết chia xẻ quyền tự do tư tưởng, sẽ là nơi hầu như không hề biết đến tầm giới hạn của quyền tự do tư tưởng.
-
Giáo dục người dân phân biệt được sự thật với chủ kiến:
Công bình mà nhận xét, người Việt Nam chúng ta dễ bị tự ái khi tranh luận vì thường đặt quá nhiều chủ kiến cá nhân vào lập trường của quan điểm và ít chú trọng đến việc mang ra sự thật để làm sáng tỏ cho mục đích của quan điểm đó. Một phần của căn nguyên là tiếng Việt có nhiều điều phải hiểu ngầm, đủ lối xưng hô mang nặng thành-kiến lẫn chủ kiến của cá nhân, cũng như ít cách diễn giải ngắn gọn, đầy đủ, và chính xác về ý tưởng. Đây là các thế mạnh độc đáo trong văn chương và nghệ thuật trào phúng, nhưng lại là khuyết điểm khi cần phải tranh luận của tiếng Việt. Tách biệt được sự thật ra khỏi chủ kiến sẽ giúp những người tham gia tranh luận tìm ra được mau chóng sự thật và căn nguyên của vấn đề, thay vì bị tự ái cá nhân dẫn đến việc công kích lẫn nhau. Nhận thức quan trọng nhất là sự thật mang giá trị tuyệt đối, không thể đổi trắng thay đen bằng lý luận cốt để bào chữa; đồng thời không được đánh đồng chủ kiến của một người với bản tính của cá nhân người đó. Điều này không những cần thiết khi tham gia tranh luận, mà còn là yếu tố quan trọng nhất để người dân đánh giá được công bình và chính xác kết quả của một cuộc tranh luận. Trong xã hội có được quyền tự do chính trị, mọi chính sách xã hội đều bắt đầu bằng nhiều cuộc tranh luận. Quan điểm của người dân thông thường sẽ dẫn đến đường lối chính trị của những chính sách đã được họ đồng tình. Một khi dư luận quần chúng đã phân biệt được sự thật với chủ kiến, khi đó trình độ dân trí trong xã hội đã trở nên trưởng thành. Đa số người dân sẽ:
-
Xác định được những chủ kiến chuyên lạm dụng danh nghĩa chung mà không có sự thật đi kèm, chuyên đánh vào tâm lý lo sợ của nhiều người nhằm đạt được mục tiêu chính trị thiển cận. Điều này sẽ ngăn cản được những chủ kiến đó trở thành chính sách được áp dụng rộng rãi trong xã hội.
-
Không tự nguyện hạn chế hoặc từ bỏ một số quyền tự do của chính mình vì bị thuyết phục bởi những chủ kiến được che dấu, ngụy trang trong một phần sự thật của vấn đề. Điều này sẽ ngăn cản được chính quyền từng bước tước đoạt lấy quyền tự do của người dân để gia tăng quyền lực cai trị.
-
Sàng lọc ra sự thật nhằm xác định trung thực bản chất của các vấn đề trong xã hội. Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến sự hình thành chính sách xã hội nhằm giải quyết tận gốc và hiệu quả những điều bế tắc trong đó.
-
Khó chấp nhận chính sách xã hội xâm phạm đến quyền tự do tương đối của nhiều người khác; dù rằng mục tiêu của các chính sách đó sẽ mang lại lợi ích cho bản thân họ. Điều này sẽ ngăn ngừa tính cách áp bức trong các chính sách công trong xã hội.
-
Xác định được chủ kiến đáng tin cậy vì đã trung thành với sự thật, và loại bỏ được những điều giả dối trong sự thật vì đã bị thêu dệt bằng chủ kiến mang tính mị dân. Điều này sẽ giúp xã hội lựa chọn được người đại diện xứng đáng và tiếp thu được những tư tưởng có giá trị cao về mọi phương diện.
Báo chí, hệ thống giáo dục, và ngành Tư pháp đóng vai trò chính để thực hiện nguyên tắc này. Xã hội có được nhiều công dân như vậy là nơi biết tôn trọng tư tưởng xung khắc và sẽ tạo môi trường thuận lợi để nuôi dưỡng những mầm tư tưởng mới.
-
Ngành Tư pháp tách biệt được rõ ràng sự thật ra khỏi chủ kiến:
Đây là yêu cầu quan trọng nhất nhằm bảo vệ công lý và quyền tự do của người dân bằng sự thật của lẽ-phải thay cho chủ kiến của kẻ có ưu thế. Vai trò của ngành Tư pháp trong việc bảo vệ công lý không phải là phân xử cho thật công bằng; mà là tách biệt thật rõ ràng sự thật với chủ kiến trong quá trình xét xử. Nếu quyền phân xử do thẩm phán quyết định, cán cân công lý hoàn toàn lệ thuộc vào khả năng chuyên môn và tinh thần công minh của người nắm giữ chức vụ đó. Bởi vì quyết định sau cùng của ngành Tư pháp là tuyệt đối nên công lý của nhiều người trong xã hội sẽ nằm trong tay thiểu số thẩm phán trong ngành Tư pháp. Để ngăn ngừa điều đó, ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng mô hình xét xử bằng hội thẩm đoàn của nước Anh. Hội thẩm đoàn là đại diện của dân; mọi người đã trưởng thành phải là thành viên của hội thẩm đoàn ít nhất là một lần trong đời. Nhiệm vụ của thẩm phán là giúp mọi người trong hội thẩm đoàn tách biệt giữa sự thật với chủ kiến trong vấn đề cần phân xử. Bằng chứng dùng để quyết định cán cân công lý phải là tập hợp của tất cả những gì thuộc về sự thật sau khi đã loại bỏ mọi chủ kiến cá nhân. Những bằng chứng pháp lý đó được đối chiếu với qui định của luật pháp và mang ra để hội thẩm đoàn quyết định. Mô hình này không hoàn hảo, đặc biệt đối với thực tế nước ta, vì người dân phục vụ trong hội thẩm đoàn dễ bị áp lực từ những kẻ có thế lực chi phối, làm đảo lộn giá trị thực của công lý. Tuy vậy với mô hình này, quyền bảo vệ giá trị của công lý và tự do hoàn toàn vào tay người dân, thay vì lệ thuộc vào tư cách đạo đức của các vị thẩm phán. Mô hình này còn là một trong những yếu tố bảo đảm vai trò độc lập của ngành Tư pháp trong chính quyền vì quyền quyết định thuộc về người dân, thẩm phán chỉ đóng vai trò hướng dẫn. Với thời gian, trách nhiệm pháp lý vào tay người dân sẽ nâng cao ý thức trong dân về luật pháp và tạo cơ hội để người dân góp phần xây dựng nền Tư pháp công bình và minh bạch.
-
Ngành Lập pháp phải lệ thuộc vào tư tưởng của người dân trong xã hội:
Đây là điều tự nhiên khi xã hội có được quyền tự do chính trị thực thụ. Nguyên tắc này được nêu ra ở đây để hoàn chỉnh vai trò về tư tưởng của ba ngành trong chính quyền. Trong xã hội mà quyền tự do chính trị chỉ là hình thức, người dân chỉ được bỏ phiếu bầu cử, nhưng không thể tham gia ứng cử. Đó là thể chế chính trị của-quan, do-thế và vì-quyền, tuy cùng chung hình thức dân chủ nhưng khác với bản chất của chính quyền dân chủ tự do “của-dân, do-dân và vì-dân”v. Với cơ chế đó, tư tưởng của ngành lập pháp luôn là tư tưởng của những thế lực mạnh; quyền tự do tư tưởng của người dân bị hạn chế hoặc xâm phạm chỉ còn là vấn đề thời gian. Chương V (“Dân chủ và các nguyên tắc dân chủ”) sẽ bàn luận kỹ thêm về vấn đề này.
-
Ngành Hành pháp được độc lập về tư tưởng chính trị với đảng cầm quyền:
Ngành Hành pháp ở đây là những bộ phận thừa hành trong guồng máy chính quyền. Đó là những chuyên viên trung thành với tinh thần tư tưởng của Hiến pháp và pháp luật. Ngoài các định hướng liên quan đến kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, họ phải được hoàn toàn độc lập về tư tưởng chính trị với tư tưởng của đảng cầm quyền. Điều này không những làm quá trình bàn giao quyền lực từ đảng này sang đảng khác diễn ra êm ả và trong vòng trật tự, mà còn đóng vai trò quan trọng nhằm ngăn ngừa ngành Hành pháp tiếm đoạt quyền tự do của người dân. Một đảng cầm quyền điều hành chính quyền phục vụ quyền lợi của dân, sẽ không có điều gì phải che giấu dư luận xã hội để đòi hỏi một số bộ phận trong chính quyền phải trung thành tuyệt đối với tư tưởng chính trị của đảng ấy. Nếu đảng cầm quyền nào thực hiện điều đó, chính quyền ấy đang âm thầm vi phạm đến quyền tự do của người dân. Những hành động này thường vay mượn danh nghĩa chung để bước đầu xâm phạm đến quyền tự do tư tưởng; sau đó là tước đoạt lần các quyền tự do khác của người dân.
Báo chí, đảng đối lập, ngành Lập pháp và Tư pháp đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc này. Có cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, nhân viên chính quyền mới ngăn chặn được đảng cầm quyền thiết lập những bộ phận chỉ biết trung thành với tư tưởng chính trị của họ mà quay lưng lại với quyền lợi của toàn dân.
-
Cơ chế chính trị, nhân văn buộc con người phải độc lập về tư tưởng:
Mục tiêu của nguyên tắc này là tạo ảnh hưởng xã hội để mọi người tự rèn luyện tư tưởng bản thân, hầu trở thành người được độc lập về tư tưởng, thoái khỏi sự phụ thuộc vào hệ tư tưởng chính thống. Cơ cấu chính trị phải được tổ chức sao cho thành phần điều hành chính quyền phải tự lập về tư tưởng, biết vận dụng kiến thức của họ để giải quyết hiệu quả và nhanh chóng những vấn đề bức xức hoặc bế tắc trong lĩnh vực chuyên trách. Những ai chuyên tụng niệm đến mức giáo điều nhưng không hiểu nổi giá trị hoặc mục đích tư tưởng đương đại (dù là chính thống), sẽ không có cơ hội được áp đặt tầm hiểu biết của họ lên nhiều người khác. Cơ chế đó, đòi hỏi những con người với trình độ cao như thế, sẽ thay đổi nhận thức trong xã hội về mẫu người thành công, đáng được phấn đấu để noi theo và kính trọng. Vấn đề này sẽ được khảo sát kỹ hơn trong chương V (“Dân chủ và các nguyên tắc dân chủ”).
-
Cơ chế kinh tế, xã hội buộc con người phải cần đến những tư tưởng mới:
Mục tiêu của nguyên tắc này là tạo áp lực cạnh tranh về kinh tế, địa vị trong xã hội để mọi người phải tìm kiếm và quý trọng những luồng tư tưởng mới, nhằm giúp họ thoát khỏi sự lệ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và thành kiến con người. Xã hội được tự do, con người được tự do lựa chọn; do đó sẽ hình thành cơ chế kinh tế bảo đảm điều kiện cạnh tranh công bằng, buộc mọi đơn vị kinh tế phải luôn phấn đấu đạt được mục tiêu ngày một cao cả hơn để tránh bị xã hội đào thải. Những mục tiêu này không chỉ tìm cách hoàn thiện sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm phục vụ người tiêu dùng với giá cả phải chăng; mà còn đảm nhận gánh vác trách nhiệm đối với xã hội và với nhân viên – vốn là nơi của đất nước và con người đã mang lại thành quả thịnh vượng cho các đơn vị kinh tế ấy. Áp lực cạnh tranh này sẽ buộc con người tìm đến những luồng tư tưởng mới bất kể thân thế và địa vị của tác giả. Người nào có tài, biết sàng lọc tư tưởng có giá trị cao trước khi được xã hội chấp nhận, sẽ là mẫu người thành công trong tương lai. Công ty nào có trình độ tổ chức cao, biết cách dung hòa tư tưởng xung khắc trong nội bộ để đạt được các mục tiêu chung, sẽ trở thành tập đoàn kinh tế giàu mạnh và có trách nhiệm với xã hội. Yêu cầu của nền kinh tế như thế, phải đòi hỏi những con người sẵng sàng tiếp thu tư tưởng như vậy, sẽ dần thay đổi nhận thức trong xã hội về tư tưởng dị biệt. Vấn đề tổ chức của các đơn vị kinh tế sẽ được khảo sát kỹ hơn trong phần “Hợp chế kinh tế” trong chương VI (“Định chế và hợp chế xã hội”).
Như vậy, với các giá trị tuyệt đối và những nguyên tắc để bảo vệ quyền tự do tư tưởng như đã nêu trên, hệ quả của quyền tự do tư tưởng là những quyền tiêu biểu và cụ thể cho mọi người dân trong xã hội như sau:
-
Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.
-
Quyền tự do tôn giáo.
-
Quyền tự do truyền bá và tiếp thu tư tưởng.
Tự do tư tưởng là tiền đề để có được những quyền tự do khác, đặc biệt là không có tự do tư tưởng sẽ không thể dẫn đến tự do chính trị. Một xã hội bị mất tự do sẽ giành được quyền tự do khởi đầu bằng cách thể hiện quyền tự do tâm tưởng đã được tạo hóa ban cho. Với lòng can đảm, dám thách thức quyền lực để khám phá ra những điều giả dối trong tư tưởng chính thống, đồng thời tìm hiểu ra sự thật và lẽ-phải trong cuộc sống, mọi người vẫn có thể tự tìm đến các luồng tư tưỏng cấp tiến đang bị ngăn cấm; giành lấy một trong những giá trị tuyệt đối của quyền tự do tư tưởng, đó là quyền chọn lựa tư tưởng để tiếp thu. Khi có nhiều người tìm cách thoát khỏi kiếp làm nô lệ tư tưởng, đó là lúc xã hội đang bắt đầu xây dựng nên nền tảng căn bản cho quyền tự do thực thụ.
Tự do tư tưởng là quyền được tự do truyền bá tâm tưởng ra ngoài cho mọi người cùng biết đến. Mọi người đều có quyền tìm kiếm tư tưởng để tiếp thu và giúp truyền bá những giá trị mà họ tâm đắc. Tuy nhiên, quyền tự do tư tưởng không có nghĩa là quyền được tự do từ chối, bác bỏ tư tưởng do xã hội hoặc cộng đồng áp đặt lên. Người ta thậm chí còn bị nhiều người có thế lực trong xã hội áp đặt hoặc cấm đoán truyền bá tư tưởng gây bất lợi, dù rằng điều này hoàn toàn trái ngược lại với nguyện vọng của bản thân. Tuy vậy, mỗi người vẫn có quyền từ chối tư tưởng mà họ không thích, nếu không bị phụ thuộc vào người truyền bá tư tưởng. Bởi vậy, quyền tự do tư tưởng của cá nhân là quyền dễ bị cộng đồng và xã hội xâm phạm. Do đó, người muốn truyền bá tư tưởng không thể bị cấm đoán và trừng trị bằng trọng tội quốc sự; mà chỉ bị hạn chế theo hình phạt của tội phạm dân sự. Ngoài ra, người truyền bá tư tưởng phải được miễn bị truy tố hoặc chỉ chịu trách nhiệm giới hạn nếu nội dung tư tưởng thuộc về giá trị tuyệt đối của quyền tự do tư tưởng. Xã hội được tự do tư tưởng sẽ là xã hội ngày càng gia tăng lòng tôn trọng và biết giữ gìn những tư tưởng dị biệt. Đó không những là xã hội của một cường quốc, mà còn là nơi sẽ đóng góp nhiều tư tưởng có giá trị cho kho tàng tri thức của nhân loại. Đó xứng đáng là mô hình lý tưởng để phấn đấu cho tương lai nước ta.
Lịch sử nhân loại đã cho thấy, xã hội có tiến triển, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, đóng góp thêm vào nền văn hiến; hoặc bị tàn phá, lâm vào cảnh điêu tàn đổ nát, làm suy đồi cả một nền văn minh, tất cả đều là kết quả do ở tư tưởng con người. Không một ai có lý trí lại được hoàn toàn độc lập về tư tưởng, dù đó là thiên tài đã khai sáng nên luồng tư tưởng mới, hay chỉ là một người tầm thường trong xã hội. Tất cả đều chịu ảnh hưởng tư tưởng lẫn nhau, trải qua kinh nghiệm sống, cũng như trong quá trình học hỏi và tiếp thu kiến thức. Nhờ vậy mà thế hệ sau mới kế thừa được hầu hết thành quả của thế hệ trước, giữ gìn trọn vẹn mọi kiến thức đã biết, đồng thời làm nền tảng để khám phá ra thêm nhiều điều chưa hề biết, mở mang tư duy và nâng cao tầm hiểu biết của trí tuệ. Đó là kết quả tích cực do có sự trao đổi tư tưởng giữa mọi người trong xã hội. Mặt khác, khi mọi người bị bắt buộc phải tiếp thu tư tưởng bằng cách tuân theo mù quáng những gì đã được tôn thờ thành chân lý, xã hội chỉ là sự tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, tích lũy rất ít kinh nghiệm mới hoặc kiến thức hay hầu truyền lại cho thế hệ sau. Nếu phải đối mặt trước những thay đổi lớn từ bên ngoài mang lại, mọi người trong xã hội đó hoặc bị bắt buộc thay đổi hệ tư tưởng để thích nghi với điều kiện mới; hoặc sẽ phải chịu số phận diệt vong. Sử sách đã làm chứng nhân cho bao cảnh tiêu vong nghiệt ngã ấy: có biết bao nền văn minh vang bóng một thời, nay chỉ còn là đống tàn tích đổ nát? Có bao nhiêu dân tộc với nền văn hóa đặc sắc, nay chỉ còn là di tích qua vài hiện vật hiếm hoi? Đó là kết quả tiêu cực nếu lịch sử khắc nghiệt với dân tộc ấy, gây nên bởi lỗi lầm do tính giáo điều khi áp đặt tư tưởng lên mọi người trong xã hội.
-
Quyền Tự Do Cá Nhân
Từ xưa đến nay, một trong những quan niệm phổ biến của dân ta là tránh bị liên can đến những vấn đề luật pháp, cho dù lẽ-phải thuộc về phía họ. Điều này không những bộc lộ sự yếu kém của hệ thống pháp luật nước ta, mà còn phản ảnh nỗi lo sợ của người dân khi phải đối mặt với luật pháp. Có thể nói, nền công lý trong xã hội ta ít khi nghiên về lẽ-phải của sự-thật, mà thường được quyết định bằng thân thế và địa vị xã hội của những người có liên can. Đây là truyền thống pháp lý xưa nay đã ăn sâu vào tâm khảm người dân ta với câu “thấp cổ bé miệng” để chỉ phận làm dân mỗi khi cần được sự bảo vệ của luật pháp. Nguyên nhân chính gây nên nỗi bất công này là người dân ta không hề có một quyền tự do cá nhân tuyệt đối nào. Quyền tự do cá nhân trong xã hội ta xưa nay là quyền hoàn toàn bất bình đẳng, phần lớn tùy thuộc vào thân thế và địa vị xã hội của mỗi người. Những ai đã từng bị xâm phạm quyền tự do cá nhân mới ý thức được sự thiệt thòi, mức áp bức, độ tủi nhục, và nỗi lầm than của thân phận hèn kém khi bị người khác chà đạp lên nhân phẩm. Bất kỳ ai có được hoặc tự do hành xử từ ảnh hưởng của thế lực, lợi thế của quyền hành, bạo hành của quyền lực, và tài lực của bản thân đều có đặc quyền đối xử tồi tệ với những người khác kém cỏi hơn; thậm chí còn tự tiện lấn áp lên quyền tự do cá nhân của họ nữa. Đó là thực trạng xưa nay trong xã hội ta, do đó bình đẳng về quyền tự do cá nhân có thể sẽ là khái niệm xa lạ đối với nhiều người dân ta, nhất là những kẻ đang có được đặc quyền về tự do cá nhân.
Một phần của quyền tự do cá nhân là quyền được làm người. Mọi người phải bảo toàn được trọn vẹn nhân phẩm của họ trong suốt cuộc đời, bất kể vị trí trên nấc thang xã hội. Phần còn lại là quyền tự do trong sinh hoạt; mỗi người được tự do hành động nếu không gây hậu quả vi phạm đến quyền tự do tuyệt đối của người khác. Tự do cá nhân là quyền dễ bị chính quyền dùng các giá trị tự do chung làm lý do để xâm phạm đến những quyền tự do riêng. Xã hội tự do giả mạo là nơi chuyên vay mượn danh nghĩa của tự do nhằm kiểm soát mọi sinh hoạt và việc làm riêng tư của người dân. Xã hội tự do thực thụ là nơi vừa bảo đảm mọi sinh hoạt riêng tư của người dân, vừa bảo vệ các giá trị tự do chung khỏi bị xâm phạm do hậu quả từ những việc làm riêng tư đó. Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa hai hình thức tự do là: xã hội tự do giả mạo chuyên chà đạp lên nhân phẩm của người dân để duy trì quyền tự do hành xử của thành phần có đặc quyền đặc lợi. Nhân phẩm của người dân tuy có tồn tại trên danh nghĩa của quyền tự do, nhưng luôn bị xâm phạm nếu chính quyền có nhu cầu cần phải bảo vệ cho thứ danh nghĩa mạo danh ấy. Trong xã hội tự do thực thụ, nhân phẩm của người dân là giá trị tuyệt đối, không thể xâm phạm hoặc mua bán; dù có người vì nhu cầu sống tự nguyện hạ thấp nhân phẩm của mình. Nếu chính quyền xâm phạm đến quyền tự do riêng vì cần bảo vệ các giá trị tự do chung, điều đó phải mang lại lợi ích lâu dài cho những người bị xâm phạm. Đối với quyền tự do trong sinh hoạt, mọi người hoàn toàn được tự do làm những gì mà luật pháp không cấm. Nếu có gây hậu quả làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều người khác, thì đó là do luật pháp còn thiếu sót, có sơ xuất chứ không phải lỗi của người thực hiện. Đây là một trong những điểm khác biệt nổi bật so với xã hội nước ta hiện nay, mọi người chỉ được quyền làm nếu luật pháp có điều khoản cho phép. Tất cả những gì không nằm trong qui định của luật pháp đều bị quan chức chính quyền tùy nghi can thiệp.
Dưới góc độ phấn đấu để đeo đuổi mục tiêu riêng trong cuộc sống, quyền tự do tư tưởng là quyền bảo bọc ý chí con người. Người ta được tự do trao đổi tư tưởng, mới quyết chí thực hiện các định hướng và mục tiêu đã đề ra. Quyền tự do chính trị là quyền bảo đảm quyền lợi của người đó và mọi người liên quan khi thực hiện những điều đó; cũng như lúc hưởng thụ thành quả đạt được. Quyền tự do cá nhân là quyền cần thiết để bảo vệ bản thân và sự tự do của họ trong quá trình đeo đuổi mục đích. Con người khó được tự do phát triển tư tưởng trong một thể xác bị tù túng, đọa đầy. Họ càng không dám tranh đấu cho lẽ-phải, đứng lên thách thức quyền lực khi thấy chính quyền lạm quyền, áp bức dân lành nếu điều đó sẽ mang đến hậu quả làm giam cầm hoặc hãm hại thân xác họ. Do đó, nếu không có quyền tự do cá nhân, con người thường trở nên ích kỷ, chỉ biết thu mình trong không gian riêng với hy vọng rằng bản thân họ sẽ không phải tự đối mặt trước những sự áp bức và bất công trong xã hội – thể hiện một phần qua quan niệm về luật pháp của dân ta. Bởi vậy, quyền tự do cá nhân là một trong những quyền tuyệt đối không thể thiếu được của quyền tự do.
Như vậy, đâu là những quyền và giá trị tuyệt đối của quyền tự do cá nhân? Tất cả những quyền tự do cá nhân dưới đây đều có giá trị công bằng tuyệt đối, nên đó là quyền bình đẳng, mọi người ai cũng như ai. Quyền tự do cá nhân được ghi rõ trong Hiến pháp của nhiều nước và khẳng định lại trong bản tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Tinh thần của những quyền đó có thể được tóm gọn như sau:
-
Quyền được xét xử công bằng và không bị thành kiến khi xét xử.
-
Quyền được bình đẳng trước pháp luật.
-
Quyền không bị vô cớ tước đoạt tự do.
-
Quyền không bị xâm nhập tư gia.
-
Quyền được sống, bảo toàn thân thể, và không bị trừng phạt quá đáng.
-
Quyền được bảo toàn nhân phẩm.
-
Quyền được sỡ hữu của cải và được bảo vệ quyền sỡ hữu ấy.
-
Quyền được làm những gì luật pháp không cấm.
-
Quyền được xét xử công bằng và không bị thành kiến khi xét xử:
Giá trị tuyệt đối của quyền này là: khi phải đối mặt trước công lý, mọi người phải cùng trải qua quá trình pháp lý không phân biệt thân thế, giai cấp xã hội mà chỉ biết đến luật lệ và lẽ-phải của sự thật. Trong quá trình xét xử, người bị cáo phải được đối xử vô tội đến khi chứng minh rõ được tội trạng. Đó là tinh thần của nền Tư pháp Anh-Mỹ với mô hình xét xử bằng hội thẩm đoàn. Ở nhiều quốc gia áp dụng mô hình này, quyền được xét xử bằng hội thẩm đoàn là quyền tuyệt đối nếu người bị cáo yêu cầu. Họ còn có quyền từ chối cung khai nếu điều đó làm hại đến bản thân họ. Họ phải có quyền biết rõ về mọi bằng chứng buộc tội, đối chiếu với nhân chứng, và được luật sư bảo vệ. Để tránh trường hợp kết án lầm người vô tội, nhất là tội phạm mang hình phạt nặng, hội thẩm đoàn phải có quyết định dứt khoát, “không có lý do nghi ngờvi” về tội trạng. Ngoài ra, để bảo vệ người dân khỏi bị chính quyền xét đi xử lại cho đến khi cáo buộc được tội trạng, hệ thống pháp lý của nước Anh không cho phép xử một người cùng một tội trạng quá hai lần. Tuy nhiên điều này cũng cho phép nhiều người thế lực cơ hội tẩu thoát công lý, nếu có bằng chứng buộc tội quan trọng bị bỏ lỡ trong quá trình xét xử ban đầu. Do đó, hiện nay nước Anh đang xem xét lại nguyên tắc này đối với tội phạm hình sự và chỉ mang ra xử lại nếu tìm ra được bằng chứng cáo buộc mới.
Thế nào là quá trình xét xử công bằng? Theo quan niệm của nền Tư pháp Anh Mỹ, đó là quá trình được đề ra với mục đích bảo đảm tính công minh cho nền công lý. Điều này không có nghĩa là người bị cáo được đối xử như nhau trong mọi trường hợp; mà họ cùng trải qua quá trình xét xử theo qui định của luật pháp một cách công khai và minh bạch, bất kể tội trạng, sao cho công chúng đều có niềm tin vào sự công bằng của hệ thống pháp lý. Trách nhiệm của chính quyền là chứng minh chứ không phải là thuyết phục cho hội thẩm đoàn để họ “không có lý do nghi ngờ” về tội trạng của bị cáo. Đối với trọng tội, bổn phận của phía bị cáo không phải là chứng minh họ hoàn toàn vô tội, mà chỉ cần thuyết phục hội thẩm đoàn để tạo ra mối nghi ngờ về khả năng vô tội. Đó là tinh thần của lối xét xử bằng đại thẩm đoàn. Đại thẩm đoàn giống như hội thẩm đoàn nhưng số người dân làm đại diện nhiều hơn. Đại thẩm đoàn chỉ nghe bằng chứng để quyết định khả năng bị cáo có vi phạm trọng tội, mà không cần phải biết về bản chất của tội phạm – đó là phần quyết định của hội thẩm đoàn. Người bị cáo buộc trọng tội có quyền yêu cầu được xét xử trước đại thẩm đoàn để xác định khả năng có phạm tội hay không, trước khi qua hội thẩm đoàn để quyết định bản chất tội trạng. Một người được xét xử công bằng khi mọi bằng chứng cáo buộc họ đều thuộc về sự thật và phải hợp pháp. Bằng chứng do chính quyền gài bẫy để kết tội bị cáo hoặc chứng cớ đã bị thay đổi để phù hợp với lời khai của nhân chứng, tất cả đều bất hợp pháp và không thể dùng được trước tòa. Đó là một phần nhỏ trong các nguyên tắc từ nền Tư pháp Anh Mỹ nhằm bảo đảm người bị cáo được xét xử công bằng và không bị thành kiến khi xét xửvii.
Tại sao quá trình xét xử của nền Tư pháp Anh Mỹ lại bảo vệ người bị cáo quá mức đến như vậy? Lược dịch câu châm ngôn của phương Tây, “người ta đánh giá một xã hội qua cách xã hội ấy đối xử với công dân bị ruồng bỏ”. Người bị cáo buộc phạm tội đa số thuộc về thành phần bị ruồng bỏ ấy. Quá trình này không phải để giữ gìn bộ mặt văn minh của xã hội, mà bảo đảm trên lý thuyết rằng xã hội không thể kết oan người dân vô tội. Hệ thống Tư pháp Anh Mỹ tuy không hoàn hảo trong thực tế, vì đã có kẻ giàu lợi dụng sự ưu đãi này để luồn lách công lý khi chính quyền mắc phải lỗi lầm trong quá trình buộc tội. Dù vậy, đó là cái giá mà xã hội bằng lòng trả để bảo đảm rằng chính quyền rất khó kết án lầm người dân vô tội. Ưu tiên hàng đầu của hệ thống pháp lý là bảo vệ quyền tự do của người dân, thay vì chú trọng vào mục đích trừng phạt kẻ phạm tội. Đây là điều khác biệt lớn nhất so với tư tưởng chính trị Khổng Mạnh trong vấn đề “trị dân”. Bảo vệ quyền tự do của người dân khó hơn gấp bội so với việc trừng phạt kẻ phạm tội, bởi lẽ kẻ bị tình nghi phạm tội cũng chính là người dân. Điều này đòi hỏi trách nhiệm nặng nề và đặt cao tiêu chuẩn nghiệp vụ đối với mọi viên chức chính quyền. Với yêu cầu phải luôn nâng cao tiêu chuẩn nghiệp vụ, tổ chức chính quyền mới trở thành công cụ có ích cho xã hội, giúp xã hội phát triển; thay vì là thế lực ngăn cản tiến trình đi lên của toàn xã hội.
-
Quyền được bình đẳng trước pháp luật:
Giá trị tuyệt đối của quyền này là: xã hội được duy trì bằng điều lệ của luật pháp thay cho quyền lực của cá nhân hoặc đảng phái. Đây là quyền căn bản nhằm bảo vệ con người trước mọi thế lực trong xã hội. Bình đẳng trước pháp luật là quyền được pháp luật bảo vệ như nhau đến mức tuyệt đối và không phân biệt giai cấp xã hội khi bị trừng phạt; chứ không phải là bị trừng phạt giống nhau đến mức bình đẳng. Hai người phạm luật gây mức độ thiệt hại khác nhau, không thể cùng nhận hình phạt như nhau. Tương tự, chung một tội trạng nhưng sẽ có người bị nhận hình phạt nặng hơn do bản chất của sự phạm pháp hoặc số lần phạm tội của họ. Tinh thần thực thụ của quyền này là khi cần được pháp luật bảo vệ, mọi người đều bình đẳng tuyệt đối như nhau, bất kể giàu nghèo hoặc địa vị xã hội. Khi đã phạm pháp, kẻ vi phạm phải bị trừng phạt theo đúng qui định của pháp luật, bất kể thân thế trong xã hội. Người đã có công trạng với xã hội không được vì thế mà được pháp luật bảo vệ chu đáo hơn nhiều người khác khi xảy ra sự tranh chấp. Quan chức chính quyền không thể vì chức vụ cao cấp mà được giảm nhẹ hình phạt phạm pháp. Khi có được quyền tuyệt đối này, người dân bình thường mới dám đứng ra tranh chấp quyền lợi chính đáng của họ trước tất cả mọi thế lực trong xã hội, kể cả việc thách thức quyền hành của chính quyền.
-
Quyền không bị vô cớ tước đoạt tự do:
Giá trị tuyệt đối của quyền này là: mọi người không thể bị tước đoạt tự do vô thời hạn nếu không được trải qua quá trình xét xử công bằng như đã nêu trên. Đây là quyền căn bản để con người thoát khỏi sự hà khắc của chính quyền hoặc thành phần có thế lực. Người dân không thể bị chính quyền vô cớ giam cầm, hoặc tạm giam vô thời hạn; nếu có bị tình nghi phạm pháp, người đó phải biết rõ tội trạng và được xét xử theo đúng qui định của luật pháp. Nếu không có quyền này, người dân dễ bị quan chức chính quyền tự tiện bắt bớ, giam cầm vì lý do an ninh quốc phòng hoặc khi bị tình nghi phạm tội. Đây là quyền tuyệt đối của người dân, bởi vậy quan chức nào xâm phạm là đã vi Hiến. Đó là tội trạng không những làm mất chức quyền, mà còn tước mất quyền tự do của quan chức ấy nữa. Đối với xã hội chịu ảnh hưởng nặng tư tưởng phong kiến về quyền lực của chính quyền như nước ta, đây là quyền cần thiết nhằm chế tài quyền lực của những người đại diện cho pháp luật, nhưng hành xử như thể là người làm chủ nhân pháp luật. Tư tưởng phong kiến coi người dân như tầng lớp ngưòi bị trị, quan chức toàn quyền tùy nghi giam giữ mà không cần đưa ra lý do chính đáng, khỏi xác định thời hạn rõ ràng, hoặc bị buộc phải chứng minh tội trạng. Đây sẽ là điều khó chấp nhận đối với nhiều quan chức trong chính quyền hiện nay.
-
Quyền không bị xâm nhập tư gia:
Giá trị tuyệt đối của quyền này là: không một ai, kể cả quan chức chính quyền vô cớ đi vào, xâm nhập, khám xét, hoặc sử dụng nhà riêng của dân; dù điều đó phục vụ lợi ích chung, nếu không được sự đồng ý của chủ nhà. Lược dịch câu nói của Nam Tước xứ Chatham, ông William Pitt người Anh, “người nghèo nhất trong túp lều riêng của mình có quyền đứng chống lại mọi quyền lực của nhà Vua. Túp lều ấy có thể bị xiêu vẹo – nóc nghiên ngã, gió lùa qua, bão thổi vào, mưa tạt vào – nhưng Hoàng Đế nước Anh không thể vào – tất cả binh lực của ngài đều không dám vượt qua ngưỡng cửa của túp lều tồi tàn ấyviii”. Đó là câu diễn tả hùng hồn nhất, chính xác nhất về quyền tuyệt đối của người dân; đó là không thể bị bất cứ thế lực nào trong xã hội xâm nhập vào tư gia. Nhà riêng là nơi để con người tìm thấy sự yên tĩnh và môi trường lý tưởng thực hiện mọi điều riêng tư mà không sợ bị người đời gièm pha, dòm ngó. Đó là chốn an toàn cho bản thân và gia đình và cũng là thành trì bảo vệ những gì riêng tư thuộc về cá nhân họ. Các quốc gia tôn trọng quyền này của người dân đều cấm chính quyền không được sử dụng nhà riêng của dân cho việc chung, bất kể yêu cầu của xã hội. Nhân viên chính quyền chỉ được khám xét nhà riêng của dân khi cần điều tra tội phạm và phải được giấy phép của tòa án. Người ta không thể có quyền tự do cá nhân thực thụ nếu họ không thể tìm thấy được sự an toàn tuyệt đối trong ngôi nhà của họ.
-
Quyền được sống, bảo toàn thân thể, và không bị trừng phạt quá đáng:
Giá trị tuyệt đối của quyền này là: chính quyền không được đề ra hình phạt quá nặng so với tội trạng đã vi phạm. Theo tinh thần đó, thân thể con người không được bị đầy đọa, tra tấn, nhục hình. Quyền này buộc chính quyền phải đề ra tội phạm thích hợp với tội trạng; thay vì áp dụng hình phạt hà khắc với mục đích làm người ta sợ hãi để giảm bớt tỉ lệ tội phạm. Con người là sản phẩm của xã hội, có đi vào con đường phạm pháp hay không phần lớn là do hoàn cảnh xã hội đưa đẩy – hình phạt hà khắc chỉ làm họ chùn bước hơn là chùn tay. Khi phạm pháp, người ta hầu hết đều nghĩ đến mối lợi và cách tẩu thoát nhiều hơn là lo sợ về hình phạt. Nhiều xã hội thực hiện án tử hình cho tội kinh tế, nhưng không phải vì thế mà mọi người đều sợ hãi không dám vi phạm. Nhiều người sẽ chấp nhận phạm tội nếu họ được mối lợi hấp dẫn và có cơ hội thoát lưới luật pháp. Người ta tin tưởng nhiều vào khả năng trốn tránh luật pháp hơn là bị nhụt chí vì những hình phạt hà khắc. Trong các căn nguyên làm ngưòi ta phạm pháp, trách nhiệm chính phần lớn thuộc về phía chính quyền. Do đó, đề ra hình phạt hà khắc không giải quyết được tận gốc vấn đề, mà chỉ tạo điều kiện để chính quyền vừa gia tăng thêm quyền lực, vừa lẩn tránh được trách nhiệm.
Con người phải có quyền được sống. Chính quyền muốn tước đoạt quyền ấy phải có lý do chính đáng và thực hiện quá trình xét xử công bằng và minh bạch để công chúng không có mối hoài nghi nào về nỗi oan kiên của người đó. Nhiều nước trên thế giới quan niệm rằng chính quyền không được tước đoạt quyền sống của con người; một phần vì đó là đặc quyền của tạo hóa. Tuy có sự bất đồng về án tử hình, song tinh thần đồng nhất của quyền này là chính quyền phải tôn trọng mạng sống và thân thể của người phạm tội. Ở những quốc gia tôn trọng quyền này, quyền con người được bảo toàn thân thể là quyền tuyệt đối. Chính quyền không được áp dụng hình phạt bất nhân, như cắt mất phần thân thể của phạm nhân; hoặc tra tấn, đầy đọa thân thể của tù nhân. Quyền không bị trừng trị quá đáng cũng là quyền tuyệt đối. Chính quyền không được đề ra hình phạt vô lý cho tội phạm vô hại; hoặc hình phạt tàn nhẫn dù đối với tội phạm có tính cách tàn bạo.
-
Quyền được bảo toàn nhân phẩm:
Giá trị tuyệt đối của quyền này là: nhân phẩm con người không phải là thứ hàng hóa để mua bán, đổi chác; hoặc không được là đồ giải trí để bị chà đạp. Xã hội phải nghiêm cấm mọi hình thức nô lệ và ngăn ngừa bất kỳ hành động chà đạp lên nhân phẩm con người. Mục đích của quyền này là san bằng tính bất công trong quan hệ người phát sinh từ hố phân hóa giàu nghèo hoặc quyền lực trong xã hội. Đối với nhiều người, tiền bạc hoặc quyền lực chỉ có sức mạnh thực, nếu mua được sự hầu hạ phục dịch tận lực hơn là đổi lấy cung cách phục vụ tận tình. Đó là một trong những bản chất xa đọa của con người, xuất phát từ lòng ham muốn thống trị lên người khác. Xã hội càng phát triển, con người càng lệ thuộc vào con người trong các thành phố đông đúc; tạo môi trường thuận lợi để người ta đối xử tàn nhẫn hoặc chà đạp lên nhân phẩm của những người khác kém cỏi hơn. Quyền tuyệt đối này được đề ra nhằm ngăn cấm các hành vi ấy. Một người dù nghèo khó dưới đáy xã hội, vẫn phải được tôn trọng và đối xử như con người. Xã hội tự do thực thụ là nơi mà mọi người đều cảm nhận được sự tự do của chính mình khi phải tiếp xúc với thành phần thế lực, quyền quí.
Xã hội phân hóa giàu nghèo bao giờ cũng có nhu cầu cần sự phục dịch đến mức hạ thấp nhân phẩm người hầu hạ. Qui luật kinh tế là hễ có nhu cầu sẽ xuất hiện cung ứng với giá cả tương xứng. Như vậy, tiêu chuẩn nhân phẩm phải như thế nào để phân biệt rõ ràng giữa việc tự nguyện hạ thấp nhân phẩm với khả năng cưỡng ép bị chà đạp lên nhân phẩm? Điều này phụ thuộc vào quan niệm về đạo đức con người của từng xã hội. Tối thiểu nhất là nhân phẩm con người phải có những quyền được đối đãi nhân nghĩa như không bị xiềng xích, đánh đập, bỏ đói, hạ nhục; cùng với quyền được đối xử công bằng trong việc làm như không bị phạt, cúp lương, hoặc khủng bố tinh thần. Hiện nay, vì nhu cầu cuộc sống mà người dân nghèo nước ta thường xuyên phải cam chịu bị chà đạp lên nhân phẩm khi làm việc cũng như lúc sinh hoạt ngoài xã hội. Chính quyền hiện nay hoàn toàn quay lưng trước mọi quyền lợi của dân vì ưu tiên phát triển kinh tế, mà không trình bày kế hoạch lâu dài nào để chấn chỉnh điều đó. Như thế, chỉ có thiểu số người có đặc quyền mới hưởng thụ được thành quả độc lập tự do của đất nước; đa số người dân ta hiện vẫn còn vì lý do kinh tế mà chấp nhận để nhân phẩm bị chà đạp, xâm phạm – đó là hình thức điển hình của kiếp nô lệ kinh tế.
-
Quyền được sỡ hữu của cải và được bảo vệ quyền sỡ hữu ấy:
Giá trị tuyệt đối của quyền này là: chính quyền tồn tại là để bảo vệ quyền tư hữu của người dân. Đó là quan điểm do nhà triết học người Anh, ông John Locke đưa ra đầu tiên khi bàn về vai trò của chính quyền. Mục đích sống của nhiều người là mưu cầu hạnh phúc. Đối với nhiều người bình thường, khác với nhà tu hành khổ hạnh, họ không thể tìm được hạnh phúc khi phải chật vật, bươn chải để kiếm sống. Mức sống con người càng cao, càng thêm tiện nghi và tiện lợi, họ càng đòi hỏi càng nhiều về nhu cầu vật chất. Có quyền sỡ hữu của cải và được bảo vệ quyền sỡ hữu ấy là điều kiện không thể thiếu để họ thỏa mãn nhu cầu đó. Đây còn là điều kiện cần thiết để bảo đảm “chủ lực” thịnh vượng của nền kinh tế. Quyền tự do hoàn toàn mất ý nghĩa nếu thiếu mất quyền làm chủ, không được sỡ hữu những gì làm ra từ thành quả lao động chính đáng của bản thân hoặc gia đình.
Đối với nguồn tài nguyên hữu hạn như đất đai, quyền này luôn nẩy sinh xung đột giữa quyền lợi cá nhân với lợi ích cộng đồng khi chính quyền cần thu hồi đất để mở rộng đường xá, qui hoạch đô thị. Chính sách nhà đất của chính quyền nước ta hiện nay là phần lớn đất đai thuộc về quyền sỡ hữu của nhà nước; người dân chỉ có quyền sử dụng. Bởi vậy nên nhà nước có quyền thu hồi đất khi cần thiết và chỉ bồi thường độ thiệt thòi do mất quyền sử dụng thay vì mức thiệt hại do mất quyền sỡ hữu. Vấn đề ở đây là nhà nước đại diện cho ai khi tự nhận quyền sỡ hữu toàn bộ đất đai mà mọi người trong xã hội đang sử dụng? Nếu nhà nước là của dân thì tại sao người dân lại không có quyền sỡ hữu? Nếu người dân không làm chủ được mảnh đất nơi họ đang sinh sống, thì đâu là quê hương, là tổ quốc của họ? Hơn nữa, ai sẽ sử dụng nguồn tài nguyên ấy hiệu quả hơn, chính quyền quan liêu hay người dân địa phương? Ai sẽ gắn bó với mảnh đất đó hơn, người dân muôn đời an cư hay quan chức nhất thời thiển cận? Ai sẽ tích cực bảo vệ môi trường của mảnh đất đó hơn, người dân lập nghiệp từ đời này sang đời khác hay quan chức chỉ biết đến món lợi trước mắt? Chính sách dùng danh nghĩa chung để lấy mất quyền sỡ hữu chính đáng của người dân mà không có biện pháp chế tài là nguồn gốc nuôi dưỡng nạn tham nhũng, áp bức và chèn ép lên người dân. Nếu vì lợi ích của cộng đồng mà chính quyền phải thu hồi tài sản sỡ hữu của cá nhân, tại sao cộng đồng không bồi thường thỏa đáng mức độ thiệt hại vì đã lấy mất quyền sỡ hữu của người ấy? Lợi ích của cộng đồng không thể được xây dựng trên nỗi thiệt thòi, độ thiệt hại của thiểu số người trong đó. Quyền tự do tuyệt đối này nhằm mang lại phương tiện tự vệ chính đáng cho thiểu số bị chèn ép ấy.
-
Quyền được làm những gì luật pháp không cấm:
Giá trị tuyệt đối của quyền này là: nếu có gây hậu quả tổn hại đến lợi ích, thậm chí quyền tự do của người khác, đó là điều sơ xuất của luật pháp chứ không phải lỗi của người thực hiện. Tinh thần chính của quyền này là: những gì con người làm được trong cuộc sống luôn là vô hạn, điều gì qui định được trong luật pháp chỉ là hữu hạn. Những gì con người dám mạo hiểm nhằm thử thách giới hạn của khả năng luôn là vô hạn, tiên đoán được hậu quả xấu để phòng ngừa trước bằng luật pháp chỉ là điều hữu hạn. Hơn nữa, những gì quan chức muốn hạch sách dân luôn là vô hạn, khi phải dựa vào qui định của luật pháp, cơ hội để họ hành dân chỉ còn là hữu hạn. Những gì quan chức muốn tham của dân luôn là vô hạn, khi bị ràng buộc theo luật pháp, cơ hội để họ nhũng nhiễu dân chỉ còn là hữu hạn. Do đó, mọi người phải có quyền tự do mạo hiểm thực hiện mọi điều mà luật pháp không cấm. Đây là quyền tuyệt đối nhằm trả lại quyền tự do thực thụ cho người dân; người dân chỉ cần tuân theo luật pháp thay vì chịu mọi sự chi phối từ chính quyền.
Quyền tự do cá nhân là quyền dễ bị chính quyền dùng các giá trị tự do chung làm lý do để xâm phạm đến những quyền tự do riêng. Nhiều hoạt động của con người trong không gian riêng nếu không bị ngăn cấm sẽ phương hại đến nhiều người khác trong xã hội. Điển hình nhất là các chất gây nghiện và cướp mất lý trí người dùng, dù sử dụng vài lần trong không gian riêng nhưng sẽ dẫn đến sự tổn hại thường trực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều người trong xã hội; đó là lý do chính đáng để chính quyền ở nhiều quốc gia cấm đoán việc sử dụng. Cờ bạc, rượu chè tuy là những thú tiêu kiển riêng tư, nhưng có nhiều người không tự kiểm soát nổi được bản thân sẽ phạm lỗi lầm, gây hậu quả tai hại cho bản thân, gia đình, hoặc nhiều người chung quanh. Tuy vậy, tác hại đối với xã hội mỗi nơi mỗi khác nên mức độ ngăn cấm cũng khác biệt ở nhiều nơi. Xã hội càng phát triển, ngày càng nẩy sinh thêm nhiều vấn đề xuất phát từ sinh hoạt riêng tư nhưng gây ảnh hưởng đến xã hội, khiến chính quyền có lý do để can thiệp càng sâu vào đời sống của người dân. Lý do thường dùng nhất của chính quyền nước ta hiện nay khi can thiệp vào cuộc sống riêng tư của người dân là phải bảo đảm nền an ninh quốc phòng, bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc, hoặc chỉ vì lợi ích chung mơ hồ. Sau mỗi lần bị can thiệp, quyền tự do cá nhân của người dân càng bị thu hẹp cùng với sự gia tăng về quyền lực của chính quyền. Bởi vậy, quyền tự do cá nhân phải cần thêm một số nguyên tắc để tách rời phạm trù của quyền tự do riêng ra khỏi các giá trị tự do chung. Những nguyên tắc đó là:
-
Can thiệp vào quyền tự do riêng nhằm bảo vệ lợi ích cho người bị xâm phạm.
-
Người dân bị can thiệp vào quyền tự do riêng để đổi lấy quyền lợi cụ thể.
-
Can thiệp quyền tự do riêng nếu hậu quả vi phạm quyền tự do tuyệt đối.
-
Can thiệp quyền tự do riêng nếu đã xảy ra hậu quả gây thiệt hại thật sự.
-
Can thiệp vào quyền tự do riêng nhằm bảo vệ lợi ích cho người bị xâm phạm:
Con người không phải ai cũng có trách nhiệm đối với bản thân và những người chung quanh. Nguyên tắc này nhằm bảo vệ lợi ích cho những người như vậy bằng cách hạn chế quyền tự do riêng của họ, không cho họ phương tiện cần thiết làm hư hỏng bản thân hoặc gây thiệt hại cho xã hội. Cấm sử dụng chất kích thích tàn phá lý trí con người tuy can thiệp vào quyền tự do của người dùng, nhưng đó là vì lợi ích lâu dài cho bản thân họ nhiều hơn là đối với xã hội. Cấm đoán cờ bạc, rượu chè là can thiệp vào quyền tự do của mọi người, trong đó có một số người cần phải cai nghiện nhưng cũng có nhiều người biết tự kiểm soát bản thân. Do đó, giải pháp tối ưu là không nên cấm đoán tràn lan; mà chỉ cấm những người cần được cai nghiện. Bản chất của chính quyền là luôn tìm mọi lý do để can thiệp vào sinh hoạt riêng tư của người dân. Trước thực trạng đó, khi có được tự do chính trị, mọi người nên chia xẻ quyền tự do cho nhau thay vì chiếm đoạt quyền tự do của nhau. Nếu vì quyền lợi của mà đa số người cho phép chính quyền can thiệp vào quyền tự do của thiểu số, họ có thể đã lấn áp lên quyền tự do của thiểu số ấy. Bởi vậy, nếu người dân không bị ảnh hưởng từ đề nghị can thiệp của chính quyền, họ nên dựa vào nguyên tắc này để đánh giá đúng mức tính chính đáng của sự can thiệp đó.
-
Người dân bị can thiệp vào quyền tự do riêng để đổi lấy quyền lợi cụ thể:
Nguyên tắc này nhằm bảo vệ lợi ích của mọi người khi họ phải mất một số quyền tự do riêng. Nếu họ không hưởng được quyền lợi cụ thể, mà chỉ nhận lợi ích trên danh nghĩa, người dân không nên từ bỏ những quyền tự do riêng ấy. Luật giao thông là ví dụ khi mọi người chịu thiệt mất một số quyền tự do riêng lúc đi đường để bảo đảm an toàn giao thông công cộng. Chính sách kiểm soát phương tiện thông tin liên lạc của chính quyền hiện nay là ví dụ khi người dân bị theo dõi, mất quyền tự do để đổi lấy lợi ích do chính quyền tuyên truyền; thực tế chỉ là lợi ích trên danh nghĩa. Người dân ta tuy không có quyền phản đối các chính sách của chính quyền, nhưng họ cần hiểu rằng mọi sự can thiệp không mang lại lợi ích cụ thể là hành động vi phạm đến quyền tự do của họ. Trong xã hội tự do chính trị, người dân rất khó để chính quyền can thiệp vào quyền tự do riêng nếu họ không nhận được quyền lợi rõ ràng. Tuy vậy, đối với một số vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng, họ vẫn dễ bằng lòng đánh đổi quyền tự do riêng cho những lợi ích khó kiểm chứng.
-
Can thiệp vào quyền tự do riêng nếu hậu quả vi phạm quyền tự do tuyệt đối:
Đây là nguyên tắc thường dùng khi soạn thảo luật pháp. Quyền tự do tuyệt đối là những quyền tối cao, không thể bị xâm phạm. Quyền lực của toàn xã hội không thể xâm phạm, quyền hạn của cá nhân càng không thể đụng chạm đến. Đối với xã hội ảnh hưởng tư tưởng Khổng Mạnh như nước ta, quyền hành của cha mẹ đối với con cái dường như là vô hạn. Tuy nhiên luật pháp sẽ phải can thiệp vào quyền tự do nếu cha mẹ đối xử tệ hại với con cái, vi phạm đến quyền tự do tuyệt đối của chúng. Điều này sẽ gây nên xung đột gay gắt đối với nhiều người dân ta giữa quan niệm truyền thống với những gì thuộc về công lý và lẽ phải.
-
Can thiệp vào quyền tự do riêng nếu đã xảy ra hậu quả gây thiệt hại thật sự:
Chính quyền sẽ không thiếu lý do để can thiệp vào quyền tự do riêng của người dân. Nếu người dân cho phép chính quyền lợi dụng bản năng lo sợ của con người để can thiệp vào đời sống của họ hoặc người khác, họ sẽ đánh mất dần quyền tự do và gia tăng quyền lực cho chính quyền nhưng không nhận được bất kỳ lợi ích cụ thể nào. Xã hội nào cũng có sự phân hóa, nghi ngờ giữa nhiều tầng lớp người với nhau, điển hình nhất là thành kiến đối với những người đã phạm tội, bất hảo, hay bị xã hội ruồng bỏ. Người ta có thể nghĩ ra đủ cách can thiệp vào quyền tự do của các thành phần đó nhằm ngăn ngừa mọi hành động phạm pháp của họ; nhưng điều đó cũng sẽ ngăn cản cơ hội để họ hối cải hoàn lương, cố gắng trở thành người lương thiện. Tương tự, nếu xã hội lo sợ sự phung phí quá mức của thành phần giàu có mà can thiệp quá đáng vào quyền tự do tiêu thụ của họ, xã hội ấy khó đạt sản sinh thêm nhiều người giàu. Tựu chung là xã hội nào cũng có thể có nhiều vấn đề để đa số người phải lo sợ từ một nhóm người nào đó, đề ra luật lệ có tính cách kỳ thị, can thiệp vào quyền tự do của họ trước khi xảy ra thiệt hại thực sự, thường mang lại hậu quả tai hại hơn là kết quả như ý muốn.
Hệ quả của quyền tự do cá nhân là những quyền tiêu biểu và cụ thể cho mọi người dân trong xã hội như sau:
-
Quyền không bị vô cớ tước đoạt tự do, không bị thành kiến khi xét xử và phải được xét xử công bằng.
-
Quyền được tôn trọng và được bảo vệ tuyệt đối quyền làm người trước mọi thế lực trong xã hội.
-
Quyền được sống, quyền được bảo toàn thân thể lẫn danh dự.
-
Quyền tự do đi lại, tự do trong mọi việc riêng tư.
Con người có quyền tự do chính trị và tư tưởng nhưng sẽ không có nhiều người dám sử dụng triệt để những quyền tự do ấy nếu họ không được bảo đảm sự an toàn, hoặc cuộc sống riêng tư của họ dễ bị xâm phạm. Con người chỉ thực sự được tự do nếu họ hành xử được bất kỳ quyền tự do nào mà không phải lo sợ bị di hại cho bản thân và gia đình. Ngoài ra, con người được tự do thực sự khi họ được đối xử như một con người, bất kể nguồn gốc và thân thế xã hội. Họ còn phải được tự do làm việc, mạo hiểm, khám phá trong cuộc sống riêng tư mà không cần phải được chính quyền cho phép. Đó là tinh thần căn bản của quyền tự do cá nhân. Điều này cũng là lý do tại sao mà quyền tự do phải là quyền tổng thể thống nhất, không thể tách rời của các quyền tự do liên đới.
-
Quyền Tự Do Kinh Tế
Hệ quả của quyền tự do kinh tế là những quyền tiêu biểu và cụ thể cho mọi người dân trong xã hội như sau:
-
Quyền được tư hữu và sử dụng của cải tư hữu.
-
Quyền được tìm kiếm và hưởng thụ nhu cầu sống.
-
Quyền tự do trao đổi.
-
Quyền tự do cạnh tranh và được cạnh tranh công bằng.
-
Quyền được hưởng quyền lợi từ thành quả lao động.
-
Quyền được bảo vệ quyền lợi kinh tế chính đáng.
-
Quyền tranh đấu để tự bảo vệ quyền lợi kinh tế chính đáng.
-
Kết Luận
i Điều này có bằng chứng lịch sử từ lúc bắt đầu phong trào Việt Minh đến khi đảng Cộng Sản giành độc quyền yêu nước theo đường lối chủ nghĩa Cộng Sản. Học thuyết Cộng Sản không hề đề cập đến các quyền tự do của con người.
ii Rày là từ thuần Việt, có tính địa phương ngày nay ít dùng đến, nghĩa là “ngày”. Theo ý tác giả, chữ rày nên dùng trong văn viết để chỉ “ngày nay” nhưng khác nhau ở trạng thái thời gian. “Ngày nay” chỉ thời điểm hiện tại, trong khi đó “rày” nhấn mạnh sự việc vừa xảy ra ở hiện tại và còn tiếp tục kéo dài đến tương lai nữa.
iii Phóng trích theo câu nói của Tổng Thống Lincoln, Hoa Kỳ: “Chính quyền là của dân, do dân và vì dân”.
iv Chú thích chữ rày tác giả cố ý dùng để chỉ rõ trạng thái thời gian.
v Câu nói của Tổng Thống Lincoln, Hoa Kỳ.
vi Lược dịch từ câu: “beyond reasonable doubt”.
vii Nội dung lược dịch theo nguồn: http://usinfo.state.gov/products/pubs/rightsof/
viii Nguyên văn từ tiếng Anh: “the poorest man may in his cottage bid defiance to all the forces of the Crown. It may be frail – its root may shake – the wind may blow through it – the storm may enter – the rain may enter – but the King of England cannot enter; all his forces dare not cross the threshold of that runined tenement”.

0 Comments:
Post a Comment
<< Home