Viet Nam

Monday, December 26, 2005

Chuong Dan Nhap

Việt Nam – Con Đường Thành Cường Quốc

Chương Dẫn Nhập:

Nhận thấy rằng, đất nước, xã hội và người Việt Nam ta hiện đang bị dồn nén nhiều điều nghịch lý, bất công và mâu thuẫn:
- Lãnh thổ thống nhất với một dân tộc cùng chung truyền thống văn hóa lâu đời; thế nhưng, lòng người lại phân hóa trong một đất nước khác biệt lịch sử đấu tranh cận đại.
- Tiềm năng người với trình độ cao, hội đủ mọi điều kiện để tiến lên nền kinh tế tri thức; thế nhưng, lực lượng nhân công vẫn còn kỹ năng thấp, quá nhiều trở ngại làm dậm chân ở nền kinh tế lao động.
- Tiềm năng tài nguyên năng lượng phong phú, thừa sức thỏa mãn yêu cầu công nghiệp hóa; thế nhưng, thực lực năng lượng khai thác lại khan hiếm, thiếu sức cung ứng cho nhu cầu cơ giới hóa.
- Tài nguyên đất đai đa dạng, đa dụng, với nhiền điều kiện giúp mở mang hệ thống công nông nghiệp tân tiến; thế nhưng, thực tế khai thác lãng phí, đơn dụng, với ít cơ hội để thoát khỏi nền tảng công nông nghiệp lạc hậu.
- Trữ lượng sông nước thừa thải, dư sức đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cho nền công nông nghiệp cao cấp; thế nhưng, số lượng nước cần dùng lại cạn kiệt, dưới mức yêu cầu cung cấp sản xuất cho nền công nông nghiệp sơ khởi.
- Khoáng sản dồi dào, đủ sức cung ứng cho các ngành kinh tế quốc dân; thế nhưng, nguyên vật liệu lại thiếu hụt, phải nhập khẩu cho từng ngành kinh tế quốc gia.
- Nhà nước được lập ra để thực hiện khát vọng muốn tự do, độc lập và dân chủ của nhân dân; thế nhưng, chính quyền lại cai trị độc tài vì muốn bấu víu vào đặc quyền, độc tôn và độc đoán của đảng Cộng Sản.
- Chính sách chủ trương đấu tranh với bất kỳ thế lực nào vì quyền lợi của nhân dân; thế nhưng, chính quyền lại sẵn lòng nhượng bộ trước mọi cám dỗ vì quyền lực của đảng Cộng Sản.
- Chính quyền nói nghịch, dân buộc phải nghe; thế nhưng, dân nói điều hay, chính quyền trù dập. Dân làm điều tốt cho đất nước, chính quyền ngăn cấm; thế nhưng, chính quyền làm sai vì Đảng Cộng Sản, dân phải gánh chịu.
- Chính quyền đeo đuổi ý thức hệ lý tưởng, tinh thần Cộng Sản cao cả, mục tiêu phấn đấu xóa bỏ mọi bất công xã hội, mang lại bình đẳng trong thu nhập; thế nhưng, chính sách lại dẩn đến hiện trạng nghiệt ngã, phong cách cá nhân hèn kém, phương tiện thi hành gây thêm nhiều mâu thuẫn cá nhân, khơi sâu hố phân hóa giàu nghèo.
- Cá nhân người Việt thông minh, cần cù, có chí vươn lên, có nhiều khả năng xây dựng đời sống thịnh vượng; thế nhưng, đa phần dân Việt không thể học cao, lam lũ, hiếm cơ hội tiến thủ, được ít điều kiện thoát khỏi kiếp sống lầm than.
- Con người quyền lực bất lương, bất chính, gian manh, gian dối, chuyên đề cao sức mạnh tiền bạc, luôn được người đời trọng vọng; thế nhưng, những người dân làm ăn lương thiện, chân chính, chính trực, trung thực, luôn tôn trọng giá trị đạo đức, lại bị xã hội khinh bạc.
- Lòng dân luôn bất mãn với chính sách xã hội, mong muốn có sự đổi mới; thế nhưng, thực lực chưa thích hợp với tranh đấu chính trị, khó lòng tạo áp lực cải tổ.

Ngoài những thực tế đối nghịch đó, sau đây là những vấn nạn hiện tại của đất nước phải được lý giải nguyên do và cần tìm ra giải pháp triệt để:
- Chỉ có đảng viên đảng Cộng Sản mới được điều hành đất nước. Thế nhưng ý tưởng và trình độ điều hành đất nước không phải chỉ đảng viên Cộng Sản mới có. Ai sẽ phải trả giá cho mọi sai lầm trong việc quản lý sai trái của tập thể đảng viên Cộng Sản?
- Đối đầu trước một hậu quả sai lầm khi điều hành đất nước, chỉ có những cá nhân cụ thể bị xử lý; thế nhưng, các nguyên nhân sâu xa lại không được phân tích và giải quyết tận gốc. Những cá nhân khác khi được đặt vào vị trí quản lý ấy vẫn tiếp tục gây nên hậu quả nặng nề cho đất nước. Tại sao tài lực, thực lực của dân tộc và cơ hội, vận hội của đất nước cứ phải tiếp tục khắc phục mọi hậu quả sai lầm của chính quyền? Như vậy, vấn đề cốt lõi của sự sai lầm là ở đâu? Có phải cứ đổ lỗi mãi do con người đảng viên Cộng Sản bị tha hóa, hèn kém đạo đức?
- Chính quyền đúng nghĩa là do dân lập ra, dân có quyền lựa chọn người quản lý. Đối với nước ta, đảng Cộng Sản độc quyền lựa chọn đảng viên điều hành chính quyền; dân không được quyền chọn dân để tham gia chấp chính. Đa phần xã hội là dân, thiểu số dân là đảng viên Cộng Sản; như vậy, chính quyền hiện nay có phải “của Dân”, hay là “của đảng Cộng Sản”?
- Những người điều hành chính quyền phải là đảng viên Cộng Sản, do đảng Cộng Sản chỉ định. Chính quyền phục vụ quyền lợi cho ai nếu không làm tròn chức năng, để đảng viên Cộng Sản vơ vét tài nguyên, của cải trong xã hội? Chính quyền xử lý đến đâu, ngăn chặn ra sao, có phù hợp với nguyện vọng của toàn dân chưa, hay phải tuân theo nghị quyết Đảng Cộng Sản. Như vậy, chính quyền hiện nay có phải “do Dân”, hay là “do đảng Cộng Sản”.
- Chính quyền không biết và có trường hợp cố tình không biết đến các sai phạm của nhân viên. Tại sao người dân phải tự tìm kiếm, đánh cuộc với mạng sống, tự do của bản thân, và nguy cơ bị khủng bố tinh thần, để chỉ báo cho chính quyền về mọi điều tiêu cực trong xã hội? Như vậy chính quyền hiện nay có phải “vì Dân”, hay là “vì đảng Cộng Sản”?
- Những thành quả trong quá khứ và hiện tại của đất nước nhờ đâu mà có? Dân tộc Việt Nam không có đảng Cộng Sản có tồn tại và phát triển được không? Đảng Cộng Sản Việt Nam không có dân tộc có lớn mạnh và quyền lực được chăng? Như vậy, tại sao dân tộc phải luôn biết ơn và lệ thuộc vào sự sáng suốt của đảng Cộng Sản?

Đây không phải là bản cáo trạng hoặc đả phá chính sách của đảng Cộng Sản. Chỉ trích và phê bình mọi vấn đề xấu xa bao giờ cũng dễ làm hơn là tìm hiểu và xây dựng một giải pháp tốt đẹp. Phần lớn người Việt Nam đều cùng một quan điểm là cần phải có sự thay đổi về chính sách của chính quyền; thế nhưng, đa số chúng ta lại bị phân hóa về giải pháp, chưa thống nhất được phương pháp giải quyết. Bài học lịch sử cho thấy, giải pháp tập hợp được sự phân hóa và phân tán trong lòng người, cũng như thu hút được sự hợp tác và hợp đoàn của nhiều người, sẽ không xuất phát từ bất kỳ ý thức hệ nào; dù đó là mới, hoặc đang được cải tiến. Ý thức hệ phải phát sinh từ lịch sử phát triển của một dân tộc, phản ảnh quan niệm và nhận thức của dân tộc đó; chứ không thể do một vài cá nhân lỗi lạc phát minh ra hay du nhập vào, để áp đặt lên vận mạng cả dân tộc. Ý thức phục vụ nhân sinh, chứ không thể bắt dân sinh tôn thờ ý thức. Con người chỉ chấp nhận làm nô lệ cho ý thức, khi đó là cứu cánh quyền lực, hoặc quyền lợi cho họ. Đó là bi kịch chung của xã hội loài người.

Đây là tài liệu phân tích vài nguyên nhân chính gây nên tính nghịch lý, bất công và mâu thuẫn trong xã hội ta; đồng thời đề cử nguyên tắc chung cho các giải pháp tương ứng. Những giải pháp đề cử không lấy bất kỳ ý thức hệ nào làm nền tảng, mà dựa vào điểm đặc trưng và bản tính người Việt Nam, cũng như theo nét đặc thù và bản chất của xã hội nước ta. Đề cử giải pháp không chỉ để làm tham khảo và mục tiêu thảo luận; mà còn mang tham vọng làm chất keo liên kết tập thể người Việt Nam đang hướng đến mục đích cao hơn lẽ sống, nhưng còn bị phân hóa, phân tán, chưa thống nhất được ý chí, ý nguyện. Đây là tài liệu với hoài bão làm khởi đầu cho sự hợp tác khắp năm châu, nhằm xây dựng hệ thống tư tưởng để hỗ trợ đắc lực các giải pháp thiết thực. Mục tiêu là tập hợp sức mạnh chính trị nhằm tạo áp lực làm thay đổi tận gốc mọi chính sách của chính quyền nước ta hiện nay. Sự thay đổi nhằm vào hai mục đích chính:
1) Phát huy triệt để tiềm năng kinh tế đất nước, tạo điều kiện để mọi người dân cùng đóng góp công sức, nhằm nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho bản thân và gia đình.
2) Phát huy triệt để tiềm năng nhân lực xã hội, tạo điều kiện để Việt Nam trở thành một trong những cường quốc trên thế giới, nhằm hỗ trợ đắc lực mục đích ban đầu.

Đó cũng là điều mong mỏi chung của toàn thể dân ta.
Đó chính là mục đích sống của nhiều người trong số chúng ta.
Đó sẽ là mục tiêu phấn đấu của toàn dân tộc ta.

Tập tài liệu này bao gồm mười sáu chương, luận bàn về kinh tế, nhân văn, xã hội và chính trị. Sáu chương đầu đã soạn thảo xong ý tưởng, đang trong giai đoạn hoàn chỉnh. Mười chương còn lại, dự liệu sẽ hoàn thành trong vòng ba năm. Khi hoàn chỉnh, từng chương sẽ được đăng dần lên các diễn đàn công cộng, để tiếp nhận ý kiến thảo luận và đóng góp từ độc giả. Nội dung tóm lược của sáu chương đầu như sau:

Chương I: Thịnh Vượng Kinh Tế
Tìm hiểu về nguồn gốc của thịnh vượng kinh tế. Thịnh vượng kinh tế không phải do giàu có về tài nguyên thiên nhiên, hoặc ưu đãi về thời tiết khí hậu mang lại. Ngược lại, thiếu hụt về tài nguyên và khắc nghiệt của môi trường sống lại là một trong những yếu tố thúc đẩy xã hội đạt đến thịnh vượng kinh tế. Nền tảng của sự thịnh vượng là ở con người:
- Do khả năng đa dạng hóa nhu cầu sống để được tiện nghi hơn, thay thế được tài nguyên thiếu hụt và chế ngự nổi môi trường sống khắc nghiệt.
- Với mục đích nâng cao điều kiện sống cho nhau.
- Bằng mục tiêu đạt tối đa lợi nhuận kinh tế. Lợi nhuận kinh tế là giá trị gia tăng phát sinh từ hoạt động chế biến vật chất, hoặc cung cấp dịch vụ, với mức hao tổn hoặc độc hại thấp nhất.

Đó là nền tảng căn bản của sự thịnh vượng tự chủ và bền vững. Các nền tảng khác là thịnh vượng lệ thuộc, thịnh vượng phụ thuộc, thịnh vượng từ khai thác và thịnh vượng từ chiếm đoạt, chỉ mang lại kết quả phồn thịnh nhất thời. Tự do kinh tế là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền kinh tế thịnh vượng tự chủ.

Chương này sẽ khảo sát những nguyên tắc căn bản để xây dựng một nền kinh tế thịnh vượng tự chủ, sau đó sẽ dùng những luận cứ đó để phân tích thực trạng kinh tế nước ta, và tìm hiểu định hướng giải quyết. Tự do kinh tế là mơ ước của những người chưa đạt được thành quả; là lý tưởng của những người đang thành công; là nỗ lực phấn đấu của những người đang thành đạt; nhưng lại là ác mộng đối với những người đã thành công và thành đạt, không còn sức cạnh tranh. Tự do kinh tế là điều kiện không thể tự nhiên có, mà bị phụ thuộc vào quan hệ người trong xã hội, được khảo sát trong chương II.


Chương II: Quan Hệ Người và Thịnh Vượng Kinh Tế
Quan hệ đạo đức chỉ có giá trị, nếu mâu thuẫn giữa con người được giải quyết bằng sự cạnh tranh lành mạnh, hoặc gương sống mẩu mực. Nếu phải dùng quyền lực hoặc thế lực để kiềm chế mâu thuẫn, giá trị trong quan hệ đạo đức chỉ là sự giả tạo, giả dối.

Quan hệ người ảnh hưởng thế nào đối với sự phồn thịnh chung cho toàn xã hội và thịnh vượng riêng của từng cá nhân? Động lực nào trong quan hệ người thúc đẩy cá nhân phấn đấu và điều kiện gì làm cho xã hội phát triển, để đạt đến sự thịnh vượng? Trong thiên nhiên sự mất cân bằng là nguồn lực thúc đẩy quá trình tuần hoàn của vạn vật, để hướng đến trạng thái cân bằng. Xã hội con người cũng vậy, phải có phân hóa giàu nghèo mới phát sinh được động lực thúc đẩy, tạo nên sức phấn đấu, nhằm hướng tới sự công bằng. Với khoảng cách phân hóa giàu nghèo nhất định, xã hội sẽ đạt được sức phát triển kinh tế tối ưu hoặc/và duy trì được nền thịnh vượng lâu bền. Từng thời kỳ phát triển sẽ đòi hỏi mức độ phân hóa giàu nghèo riêng biệt. Ở vào hai thái cực là phân hóa tối đa và triệt tiêu, nền kinh tế đều không còn sức phát triển và xã hội sẽ mất đi sự thịnh vượng.

Chương này sẽ khảo sát ba mối quan hệ chính giữa mọi người trong xã hội, đó là quan hệ đạo đức, quan hệ kinh tế, và quan hệ chính trị. Nguyên tắc nào trong mối quan hệ nào sẽ giảm thiểu mâu thuẫn, hạn chế xung đột giữa người với người? Làm sao để xã hội điều chỉnh được khoảng cách phân hóa giàu nghèo ở mức độ tối ưu, thích hợp với mọi thời kỳ phát triển? Tự do chính trị là điều kiện tiên quyết để giải quyết các vấn đề trên.


Chương III: Tự Do và các Nguyên Tắc Tự Do
Nguyên tắc duy nhất của quyền tự do là: người được tự do khi có quyền thực hiện ý tưởng của mình nếu hành động hoặc hậu quả không vi phạm đến quyền tự do của người khác. Suy rộng ra cộng đồng người hay dân tộc, tự do chính là quyền thực hiện ý tưởng của đa số mà không được vi phạm đến quyền tự do của thiểu số. Quyền tự do là một tổng thể, thống nhất các quyền liên đới đó là: tự do chính trị, tự do tư tưởng, tự do cá nhân, và tự do kinh tế. Quyền tự do không thể bị phân chia. Khi thiếu một bộ phận, thể thống nhất ấy sẽ bị phá vỡ, nếu còn chăng chỉ là hình dạng, nhưng không còn trọn bản chất, đó là sự tự do giả tạo. Quyền tự do được thể hiện trong cuộc sống bằng sự tự chủ. Người nào có quyền tự do, mới được quyền tự chủ. Nhân dân ta đã giành được quyền tự chủ cho đất nước; thế nhưng, chính quyền hiện nay lại cướp mất quyền tự do của người dân. Đó là nguyên nhân chính gây nên mọi điều nghịch lý, bất công và mâu thuẫn trong xã hội ta.

Chương này khảo sát chi tiết các quyền tự do liên đới và nguyên tắc của tự do; đồng thời chứng minh rằng mọi quyền tự do dù nhỏ nhoi nhất, không phương hại đến quyền lực của chính quyền như tự do làm ăn, mưu sinh (nằm trong quyền tự do kinh tế) đều không thể tự tồn tại, mà luôn phụ thuộc vào tổng thể thống nhất của sự tự do. Con người không có quyền tự do, xã hội không thể có được tự do chính trị.


Chương IV: Công Bằng và các Nguyên Tắc Công Bằng
Thế nào là lẽ công bằng và nguyên tắc công bằng? Công bằng đối với người này thường là bất công đối với người khác, vì lẽ công bằng trong quan hệ người có giá trị tương đối. Xã hội đeo đuổi mục tiêu công bằng của quyền lợi vật chất, không bao giờ biết đến lẽ công bằng. Xã hội thi hành mục tiêu công bằng theo giá trị quyền lợi, lúc nào cũng đạt được tính công bằng cao. Xã hội công bằng đúng mức là nơi mà trong đó mọi công dân đều có điều kiện thuận lợi, để tự giải quyết thỏa đáng các mối mâu thuẫn trong cuộc sống cá nhân. Đó là mô hình xã hội, mà chúng ta nên phấn đấu và xây dựng.

Con người có quyền tự do, nhưng thiếu tinh thần công bằng sẽ gây cản trở tiến trình thịnh vượng của xã hội. Chương này tìm hiểu thế nào là công bằng của quyền lợi vật chất, công bằng theo giá trị quyền lợi, và nguyên tắc hình thành mô hình xã hội công bằng mà chúng ta nên phấn đấu, xây dựng.


Chương V: Dân Chủ và các Nguyên Tắc Dân Chủ
Thế nào là dân chủ và nguyên tắc dân chủ? Dân chủ là công cụ để xã hội thực hiện quyền tự do chính trị. Quyền làm chủ và quyền lợi là hai khái niệm khác nhau của các nền dân chủ. Trong nền dân chủ thụ động như ở nước ta, người dân có quyền làm chủ, nhưng không được hưởng bất kỳ quyền lợi tương ứng. Đối với nền dân-chủ chủ-động như các nước Âu Mỹ, người dân không có quyền làm chủ, nhưng lại được hưởng mọi quyền lợi tương xứng. Nền dân-chủ chủ-động gồm có ba hình thức đang được thực hành là: đại diện trực tiếp, đại diện gián tiếp và cả hai. Dưới bất kỳ hình thức, nền dân chủ đại diện sẽ phát sinh hai khả năng: hoặc cho dân, vì dân; hoặc cho các thế lực mạnh, vì quan.

Dân chủ là hình thức chính quyền tương đối hiệu quả nhất, đã biết đến xưa nay, để bảo đảm quyền tự do chính trị và duy trì quyền tự do kinh tế cho công dân. Thể chế dân chủ phải đi đôi với lẽ công bằng mới bảo đảm được trọn vẹn quyền lợi cho mọi người trong xã hội. Chương này tìm hiểu chi tiết các khái niệm dân chủ và đề cử vài nguyên tắc căn bản, để bảo đảm nền dân chủ trong xã hội ta tương lai sẽ luôn đại diện cho dân, vì dân.


Chương VI: Định Chế và Hợp Chế Xã Hội
Thịnh vượng cá nhân và xã hội lệ thuộc vào khả năng hợp tác làm việc của mọi người. Định chế và hợp chế là các đoàn thể xã hội do con người lập nên để hệ thống hóa sự cộng tác, cộng sinh vì lợi ích chung. Muốn xây dựng xã hội có quyền tự do thực thụ, lẽ công bằng đúng mức và nền dân chủ vì dân; tư tưởng cấp tiến chỉ tạo được phần hồn, phần xác thuộc về sức mạnh tổ chức của các định chế và hợp chế trong xã hội.
- Bàn về các nguyên tắc cần thiết trong tổ chức nhân sự nhằm thiết lập, duy trì các định chế, hợp chế xã hội được vững mạnh và bền vững với thời gian.
- Tìm hiểu hai công cụ quản trị là khoa học quản lý nhân sự và nghệ thuật tranh thủ nhân tâm, chuyên dùng trong các định chế, hợp chế xã hội.
- Luận về đẳng cấp tổ chức, từ lúc tự phát sơ đẳng của một nhóm nhỏ người cùng chung mục tiêu, thân quen; đến trình độ siêu đẳng gồm hàng vạn người dị biệt tài năng, cá tính.
- Đẳng cấp tổ chức càng cao, quyền hạn cá nhân càng giảm. Nếu không bị áp lực để sinh tồn, lãnh đạo đoàn thể sẽ không muốn nâng cao đẳng cấp tổ chức. Tìm kiếm các điều kiện “cần” và “đủ”, để tạo áp lực nâng cao đẳng cấp tổ chức cho các định chế và hợp chế xã hội trong nước ta. Định chế sẽ khảo sát là: định chế nhân văn bao gồm giáo dục, y tế; định chế kinh tế gồm tài chính; định chế chính trị gồm chính quyền, pháp lý. Hợp chế sẽ khảo sát là: hợp chế kinh tế gồm các doanh nghiệp; hợp chế chính trị gồm các đảng phái.
- Đề cử vài nguyên tắc buộc các định chế và hợp chế khảo sát ở trên phải nâng cao đẳng cấp tổ chức. Riêng đối với đảng phái chính trị, đề nghị những nguyên tắc căn bản để thành lập đảng đối lập, có khả năng tạo áp lực chính trị đối với đảng Cộng Sản cầm quyền.

Định chế và hợp chế là các đoàn thể tổ chức của con người, là xã hội thu nhỏ. Trong xã hội có tự do chính trị, nếu các thành viên không có quyền tự do, không được đối xử công bằng, và đoàn thể thiếu tinh thần dân chủ, đoàn thể đó sẽ không thể tồn tại được lâu.

Mười chương còn lại đang trong giai đoạn dự thảo, nội dung muốn truyền đạt của từng chương đại ý như sau:

Chương VII: Kinh Tế Thị Trường
Kinh tế thị trường tự bản chất, không phải là phương tiện hiệu quả của cứu cánh thịnh vượng kinh tế. Tìm hiểu về các khái niệm của nền kinh tế thị trường, diễn ra tại hai thái cực: trong xã hội độc tài và xã hội tự do lý tưởng. Những khái niệm sẽ khảo sát là lợi nhuận, vốn tư bản, công cụ sản xuất, đầu tư ngoại quốc, nhu cầu thị trường, lao động, lạm phát, thiểu phát, và thuế má. Vài khái niệm tiêu biểu là:

Ưu tiên hàng đầu của nền kinh tế thị trường là lợi nhuận. Lợi nhuận là điểm đặc trưng của nền kinh tế thị trường.
- Trong xã hội độc tài, lợi nhuận hiện tại là giá trị vay mượn, sẽ phải trả bằng gánh nặng từ các vấn đề môi trường, xã hội và con người trong tương lai. Gánh nặng cho xã hội trong tương lai không liên hệ đến lợi nhuận hiện đang tích lũy. Lợi nhuận thường có bản chất bòn rút tài nguyên và bần cùng hóa người lao động.
- Trong xã hội lý tưởng, lợi nhuận là thước đo để xã hội đền đáp nỗ lực đã tạo nên giá trị gia tăng trong cuộc sống, ở thời điểm hiện tại. Ngoài ra, gánh nặng cho xã hội trong tương lai, luôn là hiểm họa đối với lợi nhuận hiện đang tích lũy. Lợi nhuận luôn có tính cách bảo tồn tài nguyên và nâng cao đời sống người lao động.

Phương tiện điều hành nền kinh tế thị trường là vốn tư bản. Vốn tư bản là kết quả của lợi nhuận tích lũy.
- Trong xã hội độc tài, vốn tư bản được sử dụng như sỡ hữu tư, do độc quyền thiểu số kiểm soát, chuyên dành cho thành phần có thế lực, để bảo toàn địa vị xã hội quyền thế của giai cấp họ.
- Trong xã hội lý tưởng, vốn tư bản được sử dụng như tài sản công, do cạnh tranh thị trường phân phối, không phân biệt thành phần được đầu tư, miễn mang lại lợi ích cao nhất cho xã hội.

Phương tiện vận hành nền kinh tế thị trường là công cụ sản xuất. Công cụ sản xuất là hình thức sử dụng vốn tư bản.
- Trong xã hội độc tài, công cụ sản xuất là phương tiện độc quyền, dùng để kiểm soát quyền lực kinh tế, ưu tiên phục vụ nhu cầu tiêu thụ cho thành phần giàu có.
- Trong xã hội lý tưởng, công cụ sản xuất là phương tiện kinh doanh, dùng để phát triển thịnh vượng kinh tế, chuyên làm gia tăng giá trị sản phẩm hoặc dịch vụ cho toàn xã hội.

Tiếp cận khoa học kỹ thuật hiện đại nhờ vào đầu tư ngoại quốc. Đầu tư ngoại quốc là hình thức tiếp cận vốn tư bản, công cụ sản xuất hiện đại, mà không cần vay mượn.
- Trong xã hội độc tài, hoạt động của công ty con giữ vai trò thứ yếu trong công ty mẹ ở ngoại quốc, nhắm vào lợi nhuận tối đa, bất kể hệ lụy đối với quốc gia sở tại.
- Trong xã hội lý tưởng, kinh doanh của công ty con là bộ phận của nền kinh tế nội địa, nhắm vào lợi nhuận dài hạn, gắn liền với sự phồn thịnh của quốc gia sở tại.

Mục tiêu nền kinh tế thị trường là phục vụ nhu cầu sống cho con người. Người ta phục vụ nhu cầu lẫn nhau, phát sinh nên nền kinh tế, phát minh ra công cụ sản xuất, tích lũy thành vốn tư bản và kinh doanh vì lợi nhuận. Đó chính là phương tiện hiệu quả nhất của cứu cánh kinh tế thịnh vượng. Sự khác biệt nổi bật giữa hai hình thái xã hội là lượng người tham gia phục vụ và hưởng được lợi ích.

Chương này tìm ra những nguyên tắc chi phối nền kinh tế thị trường và tìm hiểu giải pháp có tính khả thi, để xã hội ta càng gần với điều kiện tự do lý tưởng, hầu hưởng được lợi ích tối đa do nền kinh tế thị trường mang lại.


Chương VIII: Vai Trò Nhà Nước
Bàn luận về vai trò nhà nước trong việc bảo vệ quyền tự do thực thụ, bảo đảm lẽ công bằng đúng mức và bảo toàn nền dân chủ vì dân.

Bàn luận về vai trò nhà nước trong việc điều phối nền kinh tế, cũng như tầm ảnh hưởng của chính sách công đối với các hoạt động kinh tế.

Ngoài vai trò duy trì trật tự xã hội và điều phối nền kinh tế, nhà nước còn là công cụ để xã hội phấn đấu và thực hiện những mục tiêu chung. Mỗi người phải có mục đích sống riêng, xã hội cần có mục tiêu phấn đấu chung. Mục đích sống càng cao đẹp, người càng thành nhân. Mục tiêu phấn đấu càng khó khăn, xã hội càng thành công. Xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh không những để bảo vệ chủ quyền biển, mà còn thúc đẩy sự phát triển của công nghệ hàng hải. Chương này bình luận về những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn mà xã hội ta cần nên phấn đấu.


Chương IX: Quan Hệ Vĩ Mô giữa Tiêu Dùng, Thặng Dư và Đầu Tư.
Xã hội phát triển khi nền kinh tế sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ với giá trị gia tăng cao nhất, với độ hao tổn vật chất, năng lượng và gây độc hại môi trường tối thiểu nhất. Đó là mục tiêu chính của sự đầu tư. Người dân có đời sống phong lưu khi họ tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ được làm ra, không những vì nhu cầu sống tối thiểu, mà còn làm gia tăng tiện nghi trong cuộc sống. Đó là tiêu dùng trong sinh hoạt đời sống. Xã hội thịnh vượng khi nền kinh tế có được thặng dư sau khi tiêu dùng. Xã hội đạt đến mức độ siêu thịnh vượng khi con người biết gia tăng giá trị vật chất hoặc dịch vụ với mức hao tổn lẫn độc hại thấp nhất, để phục vụ nhu cầu tiêu dùng với độ tiện lợi và tiện nghi cao nhất.

Theo lý thuyết kinh tế phổ thông, có thặng dư mới có tiết kiệm, dùng để đầu tư. Mối tương quan giản lược là nhân công hưởng lương bổng từ doanh nghiệp, tiêu dùng lương qua thị trường tiêu thụ; phần thặng dư là tiết kiệm gởi vào thị trường tài chính để sinh lời. Doanh nghiệp đạt doanh thu từ thị trường tiêu thụ, trả lương bổng cho nhân công; vay mượn từ thị trường tài chính để đầu tư.

Tư nhân dùng thặng dư dưới ba dạng: tiêu dùng, dự phòng, hoặc tiết kiệm để đầu tư. Doanh nghiệp dùng thặng dư để chia lời cho cổ đông, dự phòng rủi ro, hoặc đầu tư để khuyếch trương. Mối tương quan mới sẽ là:
- Gia tăng tiêu dùng trong tư nhân là chuyển dịch thặng dư đến doanh nghiệp thông qua thị trường tiêu thụ.
- Gia tăng đầu tư rủi ro trong tư nhân, đồng thời nâng cao tiêu chuẩn tiêu thụ, là tạo áp lực cạnh tranh đến các doanh nghiệp.
- Thặng dư doanh nghiệp nếu không đầu tư để khuyếch trương, vì nhu cầu lợi nhuận, sẽ được đầu tư vào thị trường tài chính như tư nhân đã làm.

Đối với một quốc gia kém phát triển như nước ta, khuyến khích cắt giảm tiêu dùng và tiết kiệm không phải là quốc sách hiệu quả. Có tiêu dùng và nâng cao tiêu chuẩn tiêu dùng, thì người lao động ta mới trở thành nhà thiết kế tài, thay vì mãi là thợ gia công giỏi. Gia tăng tiêu dùng sẽ tăng vốn đầu tư không trả lãi cho các doanh nghiệp, giúp họ nâng cao công nghệ sản xuất. Có đầu tư rủi ro, mới tạo được áp lực cạnh tranh, do sự xuất hiện các doanh nghiệp mới, linh động hơn, sáng tạo hơn và hiệu quả hơn.

Chương này khảo mối liên hệ giữa ba yếu tố trên và tìm hiểu phương thức tốt nhất trong chính sách vĩ mô, để điều phối sự tương quan, nhằm hướng nền kinh tế nước ta phát triển theo căn bản của sự thịnh vượng bền vững.


Chương X: Tương Quan giữa Đầu Tư của Nhà Nước và Tư Nhân
Chương này bàn luận đề tài thuần túy kinh tế, tìm hiểu về mối tương quan giữa đầu tư của nhà nước và tư nhân. Trong nền kinh tế đóng, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào năng lực sản xuất và nhu cầu của thị trường. Đối với quốc gia kém phát triển như nước ta, năng lực sản xuất luôn dưới mức nhu cầu của thị trường. Điều này ngược lại trong các quốc gia đã phát triển, năng lực sản suất luôn trên mức nhu cầu của thị trường. Do đó, chính sách tiền tệ vĩ mô của nước ta cần ưu tiên vào hoạt động đầu tư, nhằm tăng cường và hiệu quả hóa năng lực sản xuất. Trong lĩnh vực đầu tư, tư nhân quản lý luôn hiệu quả và sinh lời cao hơn là nhà nước. Nhà nước chỉ đầu tư vào những dự án lớn, tư nhân không làm được, với tỷ suất hoàn vốn nội tại cao, đã được chứng minh theo kinh nghiệm thế giới.

Nếu tư nhân ngại đầu tư vì nhiều lý do, chính sách kinh tế cần tìm hiểu nguyên nhân và chuyển dịch nguồn vốn tiết kiệm từ tư nhân sang nhà nước để đầu tư, nhằm giải quyết các vấn đề đang vướng mắc. Nếu hoạt động đầu tư của tư nhân đang lành mạnh và cần nhiều nguồn vốn, chính sách kinh tế cần vận chuyển nguồn vốn đầu tư từ nhà nước sang tư nhân, để nâng cao hiệu quả.

Chương này tìm hiểu một số biện pháp thị trường, chính sách kinh tế và điều kiện áp dụng để vận chuyển vốn đầu tư từ nhà nước sang tư nhân và ngược lại.


Chương XI: Đặc Trưng về Người và Xã Hội Việt Nam
Tìm hiểu về những nét đặc trưng về con người và xã hội Việt Nam. Chủ đích không phải đề cao niềm tự hào dân tộc, hoặc biện minh lòng tự ti cá nhân. Mục tiêu chính là giới thiệu quan điểm nhân sinh mới, xét lại sự tương hỗ giữa đặc tính tốt và xấu của con người trong các điều kiện xã hội khác nhau.

Trong tự nhiên, thế mạnh ở nơi này sẽ là điểm yếu ở nơi khác và ngược lại. Thành công của một xã hội phụ thuộc vào sự hiểu biết và áp dụng thế mạnh, yếu, tốt, xấu của mọi người theo cách hợp thời, đúng chổ, và thuận lòng. Thế mạnh dân tộc, nếu sử dụng sai, sẽ là thảm họa quốc gia. Bản tính con người tưởng như xấu xa, là nguyên nhân gây trì trệ trong xã hội, với điều kiện thích hợp, sẽ mang lại lợi ích chung, thúc đẩy sự phát triển của quốc gia. Đòi hỏi người lãnh đạo thay đổi nhân cách, để làm cách mạng, sẽ không bao giờ thành công. Tạo nên lực lượng đối lập, để tranh giành quyền lợi, sẽ luôn thành công thay đổi nhân cách người lãnh đạo.


Chương XII: Thử Thách và Vài Dự Đoán Bi Quan cho Tương Lai Việt Nam
Luận bàn về các thử thách của Việt Nam tương lai, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, bao gồm:
- Thử thách về kinh tế, trước áp lực cạnh tranh từ Trung Quốc và các nước trong khu vực.
- Thử thách về tài nguyên và môi trường, trước sự yếu kém của nền kinh tế trong nước.
- Thử thách về trật tự xã hội và ý thức con người, trước sự mất định hướng của xã hội.
- Thách đố đối với dân tộc Việt Nam trước sự tiến bộ chung của thế giới.

Trong thế kỷ XIX, dù có ưu thế tuyệt đối về khoa học kỹ thuật và quân sự, các cường quốc phương Tây và Nhật Bản vẫn không thể chinh phục Trung Quốc làm thuộc địa, như người Anh đã thành công ở Ấn Độ. Thời đó, khai thác tài nguyên thuộc địa phải dùng đến vũ lực, tốn kém xương máu và tiền bạc để duy trì guồng máy cai trị. Ngày nay, qua hệ thống kinh tế thị trường, các nước kém phát triển tranh nhau bán tài nguyên thô, giữ giá lao động rẻ, hoặc hạ thấp trách nhiệm thuế, để thu hút ngoại tệ. Như vậy, cùng đạt một mục đích, các cường quốc ngày nay không cần phải tốn kém xương máu và tiền bạc như cha ông họ ngày xưa. Thay vào vũ lực ngoại quốc là bạo quyền trong nước, đó là điều bất hạnh của người dân các nước độc tài, kém phát triển.

Chương này tìm cách dự đoán quá trình tiến hóa của đảng Cộng Sản; đồng thời, đưa ra tiên đoán, một cách bi quan, cho tương lai Việt Nam trong bối cảnh tiến hóa đó.

Nợ quốc gia của các nước nhược tiểu thường để ngăn ngừa suy thoái kinh tế của các cường quốc tài trợ. Tham nhũng và tắc trách sẽ tiêu xài tiền tài trợ, lẫn ngoại tệ bán tài nguyên vào các nhu cầu xa hoa cá nhân; thay vì cho cơ sở hạ tầng, hoặc phương tiện sản xuất của xã hội. Sự lệ thuộc vào nợ ngoại quốc sẽ trói buộc các nước kém phát triển hiệu quả và kinh tế hơn là mọi vũ khí tối tân. Đó là tương lai bi quan nhất, đáng sợ nhất cho đất nước và dân tộc Việt Nam.


Chương XIII: Phương Thức Thay Đổi Môi Trường Chính Trị Việt Nam
Làm cách mạng hay cải tổ môi trường chính trị Việt Nam? Guồng máy chính quyền hiện nay vận hành theo thế lực chính trị của thiểu số người điều hành. Với tinh thần này, môi trường chính quyền là nơi lý tưởng để phát sinh và nuôi dưỡng các mầm ung thư, chuyên lạm quyền, cậy thế và tham nhũng. Cá nhân nào tự hy sinh quyền lợi vì giá trị đạo đức hoặc lợi ích xã hội là tự nguyện từ bỏ thế lực chính trị, tự giác sa vào vòng lao lý. Kỳ vọng cải tổ cơ chế này lệ thuộc tuyệt đối vào tính “minh quân” của thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản. Điều này hoàn toàn tuyệt vọng đối với thực tế nước ta, vì:
- Guồng máy đảng Cộng Sản được xây dựng trên cơ sở bánh răng là những ông thánh, nhưng khi vận hành lại là con người, với bản chất cố hữu tham lam, lạm quyền, và lười biếng. Một vài ông thánh, nếu có trong guồng máy này, sẽ là hình tượng luôn được đánh bóng, nhưng lại là tù binh của những bánh răng trần tục.
- Guồng máy tổ chức đảng luôn nghiền nát nhân tài trong lực lượng đảng viên, vì lợi ích chung có ý kiến, hoặc manh nha hành động ngược lại với quyền lợi của đảng Cộng Sản.

Cách mạng làm thay đổi môi trường chính trị Việt Nam phải theo “diễn tiến hòa bình”, dùng sức mạnh nhờ liên kết quyền lợi kinh tế để làm áp lực đấu tranh chính trị. Phương châm cách mạng cần được sửa đổi từ câu nói của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học, đó là: “phải thành công, mới thành nhân”. Ngày nay, làm cách mạng giữa người Việt Nam, tuyệt đối không được phí phạm sinh mạng, cho dù thành công hay không.

Giai đoạn đầu phải thống nhất lòng người bằng cách cộng tác lẫn nhau để xây dựng hệ thống tư tưởng làm nhiều người tâm đắc. Hệ thống tư tưởng bao gồm những nguyên tắc căn bản, học hỏi từ kinh nghiệm thế giới, hỗ trợ đắc lực trong việc tìm kiếm những giải pháp chi tiết và thiết thực, cho mọi vấn nạn trong xã hội ta. Công bố tập tài liệu này với kỳ vọng là mốc khởi đầu của giai đoạn này.

Giai đoạn kế đến là thành lập đảng đối lập, hợp nhất nỗ lực đấu tranh, nhằm đáp ứng nguyện vọng của toàn dân ta là thay đổi môi trường chính trị. Những giai đoạn sau, đảng đối lập phải tập hợp thực lực từ nhiều thành phần rời rạc, liên hiệp nhau bằng tương đồng tư tưởng, liên kết nhau bằng quyền lợi kinh tế, hợp sức cùng đấu tranh để giành lại quyền lợi chính đáng cho họ. Mục tiêu tối hậu là mang lại quyền tự do chính trị và kinh tế đến với mọi người dân ta.

Chỉ khi nào đảng đối lập có thực lực nhân sự, đạt đẳng cấp tổ chức cao, thi hành dân chủ trong sinh hoạt đảng, chế tài nhau bằng cạnh tranh nội bộ; khi đó người dân ta mới thấy được sức mạnh tổ chức, tin tưởng vào đường lối và khả năng thực thi chính sách của đảng đối lập. Chỉ khi được lòng tin của dân, đảng đối lập mới tạo nổi áp lực bãi bỏ điều 4 trong Hiến pháp hiện hành. Khi đó điều kiện trở thành đảng cầm quyền và tiếp tục được cầm quyền, phụ thuộc vào lòng tín nhiệm của nhân dân và kết quả thực thi chính sách có đáp ứng được với nguyện vọng của họ.

Chương này bàn về những nguyên tắc hoạt động và phát triển của đảng đối lập.


Chương XIV: Phương Hướng Đánh Thức Tiềm Năng Kinh Tế Việt Nam
Tính khả thi của chương này phụ thuộc vào kết quả của chương trước. Sẽ không có giải pháp thuần túy kinh tế nào lại giải thoát được hoàn toàn tiềm năng kinh tế Việt Nam nếu không có cạnh tranh chính trị bằng đa đảng, đa nguyên. Mục tiêu của giai đoạn này là bắt kịp kinh tế với các quốc gia trong khối ASEAN.

1. Dựa vào các nhận định sau:
1.1. Năng lực thị trường:
- Thị trường tiêu thụ nước ta lớn. Hiện tại, nhu cầu tiêu thụ phần lớn là các sản phẩm đã trở nên bình dân đối với thị trường thế giới.
- Thị trường tiêu thụ quốc tế ngày nay không còn chuộng những sản phẩm, có chức năng trong cuộc sống, làm bằng phương tiện thủ công. Nếu là sản phẩm thủ công, thị trường tiêu thụ cao cấp ở các nước giàu chỉ chuộng thể loại thuần túy nghệ thuật, với số lượng hạn chế.
- Ưu thế cạnh tranh của sản phẩm, nền kinh tế ta hiện sản xuất được, đối với thị trường ASEAN và Trung Quốc, là nặng về chức năng, nhiều về số lượng lẫn giá thành rẻ, để phục vụ nhu cầu sống, vốn rất gần với nhu cầu bình dân của nước ta.
- Thế mạnh cạnh tranh của sản phẩm, nền kinh tế ta đang làm được, đối với thị trường các nước đã pháp triển, là gia tăng tính nghệ thuật, tăng cường lượng thành phẩm, với giá cả vừa phải, để làm cuộc sống của khách hàng thêm phong phú.
- Thị trường ASEAN là cơ hội kinh tế lớn để tiêu thụ những sản phẩm bình dân, đang còn làm thủ công trong nước.
- Kinh tế nước ta đang có nhiều cơ hội để công nghiệp hóa hai qui trình chính, đó là: làm ra sản phẩm bình dân bằng phương tiện thủ công; và chế biến thực phẩm theo kinh nghiệm dân gian. Đây là những động lực thị trường hiệu quả nhất, thúc đẩy sự phát triển thành công của ngành công nghiệp chế tạo công cụ và máy móc trong nước.
- Nền kinh tế nước ta đang có nhiều cơ hội tri thức hóa bằng cách tận dụng tài năng nghệ thuật của các nghệ nhân, sức sáng tạo trong giới trẻ và tinh thần cầu tiến của người lao động.
- Đầu tư ngoại quốc (FDI – Foreign Direct Investment) vào các ngành sử dụng lao động phổ thông, hoặc kỹ năng thấp, chỉ giải quyết được phần nào nạn thất nghiệp. Đó không phải là phương tiện chuyển giao công nghệ hiệu nghiệm, nhưng lại là môi trường học hỏi kiến thức quản lý hiệu quả.
- Sản phẩm của ta đang có tiềm năng cạnh tranh ưu thế trên thị trường thế giới, nhưng chưa được khai thác đúng mức, thuộc các ngành: chế biến thực phẩm, đồ gia dụng, dệt may, giầy dép, nữ trang, bao bì đóng gói, nông nghiệp cao cấp, điện cơ, điện tử, tin học, hóa sinh, hóa dầu và cơ khí.
- Dịch vụ nước ta đang có thế mạnh cạnh tranh, nhưng chưa được khai thác đúng mức là: du lịch, y tế, tin học, quảng cáo, tiếp thị, in ấn, giải trí và vận tải.
- Những ngành công nghệ mũi nhọn, có ưu thế về nhân lực và tài nguyên ở nước ta là: tin học, viễn thông, điện tử, hóa sinh, hóa học, dược phẩm, mỹ phẩm, lọc dầu, phân bón, xử lý chất thải, luyện kim, chế tạo máy, chế tạo công cụ, dụng cụ y tế, đồ gia dụng, vật liệu xây dựng, hàng hải và năng lượng xanh.
- Những ngành dịch vụ mũi nhọn, có thế mạnh về nhân lực ở nước ta là: tin học, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, tư vấn, thiết kế, kiến trúc, quảng cáo và tiếp thị.

1.2. Thế mạnh nhân lực:
- Người lao động làm việc cần cù, cầu tiến. Trình độ nhân công giỏi, lãnh hội nhanh. Tiềm năng đào tạo được số lượng lớn chuyên gia với trình độ cao.
- Người Việt Nam rất sáng tạo trong việc tìm kiếm cơ hội kinh doanh, để đáp ứng các nhu cầu đa dạng trong cuộc sống.
- Truyền thống hiếu học, dùng học vấn để tiến thân. Với nhiều cơ hội kinh tế, sự học sẽ không còn đơn điệu, nhàm chán với tính cách từ chương; mà luôn đa dạng, hấp dẫn với tính chất thực tế cao.
- Khi được tự do, người Việt Nam linh hoạt trong kinh doanh, có khiếu thẩm mỹ nghệ thuật, trình độ lý luận tính logic cao, kỹ năng cơ khí tài giỏi và sức sáng tạo mạnh mẽ.
- Lực lượng chuyên gia gốc Việt đang làm việc tại hải ngoại đông đảo. Đối với họ, môi trường kinh doanh thông thoáng, điều kiện sống thuận lợi và quê hương đang trên đường phát triển, là cơ hội thăng tiến không nơi nào sánh bằng.
- Lực lượng chuyên gia gốc Việt sẽ là cầu nối truyền bá kinh nghiệm quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật và thông tin thị trường đến với doanh nghiệp và chuyên gia trong nước.
- Đồng bào hải ngoại vừa là cầu nối để giới thiệu sản phẩm Việt Nam đến thị trường thế giới, vừa là chủ đầu tư giúp phát triển kinh tế trong nước. Nền kinh tế tăng trưởng mạnh, mang lại sự thịnh vượng vững bền cho mọi người trong nước, sẽ kéo theo sự phồn thịnh của đồng bào hải ngoại.

1.3. Thuận lợi địa thế:
- Vị trí địa lý nước ta thuận tiện cho việc giao thương, mậu dịch.
- Có nhiều tài nguyên khoáng sản chưa được khảo sát và khai thác.
- Nằm trong vùng nhiệt đới, tài nguyên sông nước và năng lượng mặt trời dồi dào. Nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kỹ nghệ năng lượng xanh.
- Đất đai thuận lợi cho nông nghiệp, lâm nghiệp chuyên. Sông ngòi thuận tiện cho việc nuôi thủy, hải sản.

1.4. Thuận lợi thời cuộc:
- Sau gần hai trăm năm kỹ nghệ hóa, nguồn vốn tư bản thế giới tích lũy được rất dồi dào và sẵn sàng chảy vào các quốc gia mới phát triển, có triển vọng sinh lời cao.
- Học được kinh nghiệm quản trị và khoa học kỹ thuật tiên tiến đã được thử nghiệm trong thực tế. Rút tỉa được kinh nghiệm phát triển của nhiều nước, nhằm tránh được những lổi lầm nghiêm trọng.
- Nền kinh tế ta dựa trên nền tảng thịnh vượng tự chủ, là ưu tiên phát triển thị trường tiêu thụ nội địa; đa dạng và tiện nghi hóa nhu cầu sống của dân ta. Đời sống của dân ta càng cao, nền kinh tế ta sẽ cung cấp nhiều sản phẩm, dịch vụ hữu ích mà thế giới sẽ cần. Chứng minh được khả năng này, kết hợp với ngành tài chính vững mạnh, qui định tài chính thông thoáng, sẽ mang đến nền kinh tế ta nguồn tín dụng dồi dào, với thời gian đầu tư dài hạn, khó bị ảnh hưởng bởi biến động tài chính thế giới.
- Với nền tảng thịnh vượng kinh tế nêu trên, nền kinh tế ta sẽ thu hút nhiều nguồn vốn FDI dài hạn, chủ trương chuyển giao công nghệ, mà không cần phải hạ thấp giá nhân công, ưu đãi nghĩa vụ thuế, hoặc giảm nhẹ trách nhiệm môi trường.

2. Điều kiện tiên quyết:
- Phải có tự do chính trị. Chính quyền phải phân lập, độc lập và chế tài lẫn nhau bằng quyền lực chính trị do Hiến Pháp ban hành.
- Hiến Pháp phải bảo vệ đầy đủ các quyền tự do chính đáng, bảo đảm lẽ công bằng theo giá trị quyền lợi và bảo toàn quyền dân chủ bằng đại diện quyền lợi cho toàn dân.

3. Định hướng phấn đấu:
- Phải ưu tiên xây dựng các định chế chính quyền minh bạch, hiệu quả; định chế pháp lý công bằng, công minh. Thành lập hệ thống soạn thảo luật pháp với trình độ cao, hỗ trợ đắc lực cho nhiệm vụ lập pháp của Quốc Hội.
- Xây dựng xã hội công bằng đúng mức, nền dân chủ vì dân.
- Dựa vào các nguyên tắc đã bàn trong những chương trước để nâng cao đẳng cấp tổ chức của các định chế, hợp chế trong xã hội, đặc biệt là giáo dục và y tế.
- Tìm ra nguyên tắc để tận dụng triệt để thế mạnh của các ngành nghề đang có tiềm năng cạnh tranh cao.
- Tìm ra nguyên tắc để phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ mũi nhọn, luôn có thế mạnh về nhân lực.
- Thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô đã bàn về tiêu thụ, tiết kiệm và đầu tư.


Chương XV: Con Đường Thành Cường Quốc
Tương tự, tính khả thi của chương này lệ thuộc vào kết quả của chương trước. Việt Nam sẽ không thể thành cường quốc nếu tiềm năng kinh tế vẫn còn bị vướng mắc vào nhiều rào cản nhân tạo. Hội nhập là quá trình lựa chọn giải pháp hay nhất, đã thử nghiệm và chứng minh bằng kinh nghiệm thực tế, để theo kịp các nước đã phát triển. Cường quốc không chỉ là đầu tàu kinh tế; mà còn là quốc gia đi khai phá, tìm lấy sức đột phá trong nhiều lĩnh vực. Đó là quá trình tự tìm kiếm giải pháp, thử nghiệm và chứng minh những điều chưa hề được biết đến, dù là giải pháp hay. Đó là khả năng đương đầu với thất bại, học hỏi và vươn lên cho đến khi thành công, bất kể thất bại nặng. Điều này đòi hỏi người dân phải được tự do, có tinh thần mạo hiểm, luôn ham muốn cầu tiến, và từ chối làm nô lệ cho ý thức.

1. Nhận định:
Những nhận định chủ quan sau đây dựa vào thành quả của giai đoạn trước:

1.1. Lợi thế từ cơ chế, thị trường:
- Thị trường tiêu thụ nước ta lớn, đủ điều kiện nâng đỡ và thử nghiệm những giải pháp mang tính cách đột phá.
- Định chế tài chính căn bản vững mạnh, được sự hỗ trợ đắc lực của thị trường sản xuất và tiêu thụ trong nước, là nguồn tài trợ hiệu quả cho các dự án khai phá mạo hiểm.
- Định chế chính quyền, pháp lý minh bạch, công minh, bảo đảm tính cạnh tranh lành mạnh của thị trường và theo kịp đà tiến triển nhanh chóng của xã hội.
- Xây dựng được nhiều doanh nghiệp đạt đẳng cấp tổ chức cao. Khung sườn pháp lý thuận tiện cho cán sự điều hành những nơi đó tách ra, thành lập các doanh nghiệp mới dễ dàng.
- Sự phồn thịnh của xã hội ta được xây dựng trên nền tảng thịnh vượng tự chủ. Do đó, thế mạnh độc đáo về công nghiệp của ta sẽ là:
o Thành phẩm công nghiệp, công cụ chế biến từ nguyên liệu trồng trọt vùng nhiệt đới.
o Sản phẩm nâng cao tiện nghi sống vùng nhiệt đới.
o Công nghệ chống ẩm xâm phạm và chống nắng xâm thực.
o Công nghệ khai thác năng lượng xanh, tài nguyên biển.
o Công nghệ tái chế, xử lý chất thải, làm sạch môi trường.
o Công nghệ chế biến thực phẩm theo kinh nghiệm gia truyền.
o Công nghệ dầu khí, hóa dầu và hàng hải.
o Công nghệ tin học, điện tử, vi tính và vi sinh hóa.
o Công nghệ chế tạo công cụ sản xuất, máy móc công nghiệp.
o Công nghệ dược phẩm từ y học gia truyền và mỹ phẩm trong điều kiện khí hậu ẩm.
- Ưu thế về dịch vụ của ta sẽ là: tin học, tài chính, giáo dục, y tế, thiết kế và kiến trúc.
- Rất ít quốc gia vùng nhiệt đới đạt được thịnh vượng kinh tế nhờ dựa vào năng lực tự chủ. Do đó các loại sản phẩm nền kinh tế ta chuyên sản xuất, cho thị trường tiêu thụ trong nước, sẽ có ưu thế cạnh tranh cao ở các nước cùng vùng khí hậu.

1.2. Lợi thế nhờ nhân lực:
- Có được đội ngũ chuyên gia đông đảo, trình độ cao; vừa hợp tác, vừa cạnh tranh nhau để cùng tiến. Nền giáo dục ta sẽ đào tạo nhân tài hiệu quả, san bằng khoảng cách biệt về trình độ giữa chuyên viên hải ngoại và trong nước.
- Hình thành nên giới tiêu dùng là toàn bộ dân số cả nước, rất kén chọn đối với thể loại, chức năng và chất lượng của mọi sản phẩm và dịch vụ.
- Điều kiện gây vốn, tài trợ dễ dàng, kết hợp với môi trường kinh doanh thuận lợi cho nhiều người có ý tưởng hay, cộng tác với nhau, áp dụng được vào thực tế, để tạo thành sản phẩm hoặc dịch vụ có ích.
- Đã trải qua kinh nghiệm bị giáo dục bằng tư tưởng giáo điều, buộc tôn thờ và quỵ lụy trước ý thức, khi đã có được mọi quyền tự do và đạt nhiều thành tựu đáng kể, người dân ta sẽ không bao giờ chấp nhận sự nô lệ của ý thức và tư tưởng.
- Trong xã hội được tự do và công bằng, thành tựu của vài cá nhân sẽ kéo theo sự thành công của nhiều người khác. Càng nhiều người thành tựu bằng tài năng chân chính với cung cách lương thiện, sẽ lan truyền đến nhiều người khác. Kết quả là nền kinh tế ta sẽ không thiếu nguồn nhân tài muốn mạo hiểm và cầu tiến.

1.3. Lợi thế về văn hóa:
Thành tựu về kinh tế hoặc khoa học kỹ thuật chỉ là phương tiện để cường quốc tạo ảnh hưởng nhất thời. Giá trị về văn hóa và khoa học nhân văn mới là những yếu tố quyết định đến tính bền vững của một cường quốc. Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ là những cường quốc trong một giai đoạn, nếu họ không tạo nổi ảnh hưởng về văn hóa và đạt được thành tựu về khoa học nhân văn. Trong lĩnh vực này, thuận lợi của nước ta là:
- Tư tưởng tự do sẽ không làm văn hóa Việt Nam trở nên Tây hóa. Cũng như nền văn hóa Trung Hoa đã thất bại đồng hóa dân ta, sức phản kháng trong nền văn hóa ta sẽ Việt hóa tư tưởng tự do. Đó là: tự do không biên cương trong tư tưởng, tự do theo nguyên tắc tự do trong xã hội và tự do theo trật tự cấp bậc trong gia đình. Tính cân bằng khi giải quyết xung đột giữa ba miền tự do đó, sẽ hình thành nền văn hóa mang sắc thái độc đáo riêng của Việt Nam.
- Sức hấp dẫn của một nền văn hóa phụ thuộc vào lẽ công bằng và biện pháp giải quyết mâu thuẫn trong xã hội. Với mục đích xã hội ta đeo đuổi, nền văn hóa ta sẽ có sức hấp dẫn cao. Nền văn hóa có tính hấp dẫn càng cao, gốc rễ để cường quốc thiết lập và duy trì tầm ảnh hưởng sẽ càng thêm sâu rộng.
- Tiếng Việt là cầu nối của nền văn hóa, dễ truyền bá, dễ học hỏi. Với số lượng lớn, rất lớn, từ vựng chưa dùng, chưa khai thác, ngôn ngữ Việt Nam đủ khả năng dùng trong các văn kiện cần đến tính chính xác cao, diễn đạt nghĩa rõ ràng, như luật pháp, khoa học và kỹ thuật.
- Với kinh nghiệm lịch sử vừa trải qua, nước ta sẽ xuất hiện nhiều nhân tài trong lĩnh vực khoa học nhân văn.

2. Định hướng phấn đấu:
- Tìm cách làm xã hội ta càng gần với điều kiện của xã hội lý tưởng như đã bàn ở chương VII (Kinh tế thị trường).
- Điều phối nền kinh tế qua các chính sách kinh tế vĩ mô đã bàn về tiêu thụ, tiết kiệm và đầu tư.
- Thực hiện các mục tiêu chung của xã hội như đã bàn ở chương VIII (Vai trò nhà nước).
- Nhân tài luôn hiện diện trong xã hội. Loại bỏ mọi rào cản bất công và tạo môi trường cạnh tranh vững mạnh sẽ càng làm xuất hiện thêm nhiều người tài giỏi. Đó là những người có công đưa Việt Nam lên hàng cường quốc trong tương lai.


Chương XVI: Kết Luận
Một vài cá nhân dù tài giỏi, đạo đức, hoặc uy tín đến mấy, vẫn có thể phạm sai lầm, bị tha hóa, hoặc đả phá; nhưng đối với tư tưởng được nhiều người tâm đắc thì không bao giờ. Hệ thống tư tưởng là chất keo kết hợp sức mạnh thực lực bền chặt nhất, lâu bền nhất, không thể bị chia rẽ hoặc phân hóa. Yêu cầu lớn nhất của cách mạng Việt Nam là: phải có sự chuẩn bị chu đáo về tư tưỏng, tập hợp và xây dựng tổ chức chặt chẽ từ nhiều cá nhân đang âm thầm hoạt động, mới thu hút được đông đảo quần chúng tham gia góp sức. Vấn đề xây dựng đất nước vào lúc giao thời sẽ còn khó khăn gấp bội nỗ lực loại bỏ quyền độc tôn của đảng Cộng Sản. Nếu như chúng ta không dự trù kỹ giải pháp cho mọi tình huống buổi giao thời, cũng như chưa chuẩn bị được thực lực để thi hành những giải pháp đó, người dân ta sẽ không tin tưởng và tham gia vào cuộc cách mạng dân chủ sắp tới.

Đôi dòng tâm sự:
Các bạn thân mến,

Nếu vẫn còn đọc đến đây, hẳn bạn là người đang quan tâm đến tiền đồ của dân tộc. Động lực chính thúc đẩy tôi đăng tập tài liệu này trước khi hoàn thành trọn vẹn là từ câu nói của anh bạn, xin lược trích ở đây: “nếu không có đường lối đấu tranh, nhiều người sẽ làm như Phạm Hồng Sơn để những người như tụi mình còn có hy vọng”. Chúng tôi biết có nhiều nhà đấu tranh dân chủ đang bị cô lập, cam chịu cảnh tù đày để thắp sáng ngọn đuốc hy vọng cho giới trẻ. Trong số đó, chúng tôi đọc các bài viết của anh Đỗ Nam Hải, Lê Chí Quang, và Phạm Hồng Sơn, và đã cảm thấy ấm lòng. Chúng tôi nghĩ mình là người trẻ tuổi quan tâm đến những vấn đề không ai bận tâm, lo nghĩ đến các vấn đề không ai thiết nghĩ, nhưng các anh đã soi sáng niềm tin rằng chúng tôi không cô đơn.

Theo ý chúng tôi, tư tưởng là chất keo gắn liền mọi người bất đồng chính kiến, dị biệt cá tính, và không tin tưởng lẩn nhau. Chúng ta hiểu rằng Việt Nam cần có tự do chính trị, nhưng đa số người dân ta chỉ mong được tự do làm ăn sinh sống, chưa ý thức được các giá trị của tự do kinh tế, tự do cá nhân, hoặc tự do chính trị. Đó là vấn đề khúc mắc lớn nhất về tư tưởng mà chúng ta cần giải quyết. Nếu chúng ta chưa thống nhất được với nhau bằng tư tưởng, chúng ta sẽ luôn bị cô lập dù đang chiếm số lượng đông. Tôi biết có nhiều người trong số chúng ta đã có lần nghĩ, nếu mình không có khả năng, phải làm một cái gì đó để duy trì ngọn đuốc hy vọng, thắp sáng niềm tin vào tương lai đất nước, và hun đúc ý chí trở thành cường quốc Việt Nam. Tôi nghĩ có lẽ tôi hiểu tấm lòng của các anh Đỗ Nam Hải, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, và nhiều nhà đấu tranh dân chủ khác khi ngồi viết những dòng chữ này.

Thử thách lớn nhất của chúng ta là phát triển được hệ thống lý luận chặt chẽ, mang tính thuyết phục cao, phù hợp với thực tế đất nước, dễ truyền tải, truyền bá để truyền đạt. Tập tài liệu này mang tham vọng trên. Chúng tôi kỳ vọng nhận được nhiều bài vở đóng góp, bằng ngôn ngữ tuy bình dị, phong phú nhưng rất sâu sắc và diễn đạt của tiếng mẹ Việt Nam, để giúp truyền bá tinh hoa từ kho tàng tri thức nhân loại đến với từng người dân ta. Viết cho dân tôi đọc, đó là điều tâm nguyện của chúng tôi. Diễn đàn đóng góp ý kiến, liên lạc công khai cho chúng tôi hiện nay tại: http://dkq.blogspot.com. Chúng tôi đang tìm một diễn đàn để quy tụ mọi ý kiến đóng góp thành hệ thống chuyên đề với những yêu cầu sau:
- Diễn đàn công cộng chỉ chuyên bàn thảo về những ý kiến trong chuyên đề.
- Diễn đàn kín, giữa những người đang thảo luận ý kiến, không sợ bị đánh giá sai lạc hoặc buộc phải bảo vệ quan điểm trước các ý tưởng do mình đưa ra. Lược dịch từ câu nói của nhà kinh tế học người Anh, ông Keynes, “tôi sẽ thay đổi quan điểm khi sự thật đổi thay”.
- Diễn đàn kín với tính bảo mật cao, cho phép nhiều người cùng tham gia. Đảng đối lập cần lập ra cương lĩnh và cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Một vài cá nhân, dù có lòng quyết tâm, không thể đảm đương nổi việc này.

12/2005
(C) Nguyên Long